Điều 5. Điều kiện, nguyên tắc và phương thức thực hiện chính sách
1. Chỉ thực hiện chính sách thu hút quy định tại Điều 3 Nghị quyết đối với vận động viên, huấn luyện viên đảm bảo các điều kiện quy định và chỉ áp dụng đối với các môn thể thao thành tích cao là thế mạnh của tỉnh, đảm bảo về cơ sở vật chất, trang thiết bị cho đào tạo, tập luyện.
2. Thời gian hợp đồng được hưởng chính sách quy định tại Điều 3 Nghị quyết đối với vận động viên, huấn luyện viên tùy thuộc vào nhiệm vụ thực tế từng giai đoạn thực hiện được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
3. Giao Ủy ban nhân dân tỉnh quy định cụ thể độ tuổi vận động viên được thu hút, đãi ngộ; phương thức và điều kiện chi trả mức hỗ trợ thu hút đối với vận động viên, huấn luyện viên. Căn cứ vào mức hỗ trợ tối đa quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết, yêu cầu chuyên môn của từng môn thể thao, tình hình thực tế và năng lực chuyên môn của huấn luyện viên quyết định mức hỗ trợ cụ thể đối với từng trường hợp đảm bảo chặt chẽ, phù hợp và hiệu quả.
4. Vận động viên lập nhiều thành tích chỉ hưởng một mức đãi ngộ cao nhất. Thành tích của năm trước được bắt đầu tính hưởng từ tháng 01 năm sau. Vận động viên không còn tập luyện và thi đấu cho tỉnh Quảng Nam sẽ thôi hưởng chính sách đãi ngộ.
5. Mức đãi ngộ đối với vận động viên sau khi lập thành tích xuất sắc tại Đại hội Thể thao, giải thể thao trong hệ thống thi đấu quốc gia, khu vực, châu lục, thế giới chỉ áp dụng cho vận động viên thi đấu nội dung cá nhân. Đối với vận động viên thi đấu nội dung từ 02 người trở lên, môn thi đấu tập thể thì mỗi vận động viên được hưởng 50% mức hưởng của nội dung cá nhân. Số lượng vận động viên được tính theo quy định điều lệ giải và quyết định của cấp có thẩm quyền cử tham gia thi đấu.
6. Ngoài chính sách hỗ trợ quy định tại Nghị quyết này, vận động viên, huấn luyện viên được hưởng các chế độ khác theo quy định pháp luật.