Điều 53:
1. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành.
Chủ tịch Quốc hội ký pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
2. Chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày thông qua, pháp lệnh phải được gửi đến Chủ tịch nước để công bố.
Trong trường hợp pháp lệnh đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua mà Chủ tịch nước đề nghị xem xét lại, nếu Uỷ ban thường vụ Quốc hội nhất trí với đề nghị của Chủ tịch nước thì gửi pháp lệnh đã được xem xét lại đến Chủ tịch nước để công bố trong thời hạn luật định; nếu Uỷ ban thường vụ Quốc hội vẫn biểu quyết tán thành pháp lệnh đó thì phải trả lời bằng văn bản để Chủ tịch nước quyết định việc công bố trong thời hạn luật định hoặc trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất.
3. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thuộc thẩm quyền công bố của Chủ tịch nước có hiệu lực thi hành kể từ ngày được Chủ tịch nước công bố, trừ trường hợp trong văn bản quy định ngày có hiệu lực khác.
Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, trừ các nghị quyết thuộc thẩm quyền công bố của Chủ tịch nước, có hiệu lực thi hành kể từ ngày được thông qua nếu trong văn bản không quy định ngày có hiệu lực khác. Các nghị quyết này được gửi đến các cơ quan, tổ chức hữu quan chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp.