Điều 31. Trong việc chỉ đạo, điều hoà, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Phân công Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết và các báo cáo, dự án khác theo tiến độ đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội xác định; phân công Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội thực hiện các nội dung thuộc chương trình giám sát của Quốc hội và những nội dung khác theo yêu cầu của Quốc hội; giao Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội giám sát một số vấn đề trong chương trình giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
2. Yêu cầu Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội phối hợp thực hiện một số hoạt động giám sát ở cùng một cơ quan, địa phương, đơn vị để bảo đảm chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát;
3. Xem xét và trả lời kiến nghị của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội. Trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết về những vấn đề mà Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội kiến nghị;
4. Yêu cầu Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội định kỳ báo cáo về chương trình, kế hoạch hoạt động và việc thực hiện các chương trình, kế hoạch của Hội đồng, Uỷ ban.
Hàng năm, Chủ tịch Quốc hội làm việc với Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Uỷ ban của Quốc hội để cho ý kiến chỉ đạo việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Khi cần thiết, Chủ tịch Quốc hội làm việc với Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Uỷ ban của Quốc hội về các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội.