Điều 15. Điều chỉnh độ mật của bí mật nhà nước
1. Việc điều chỉnh độ mật phải căn cứ vào danh mục bí mật nhà nước theo ngành, lĩnh vực do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
2. Thẩm quyền điều chỉnh độ mật:
a) Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh (hoặc các Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh được ủy quyền theo lĩnh vực được phân công) quyết định việc điều chỉnh độ mật của bí mật nhà nước do Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành, tạo ra;
b) Người đứng đầu (hoặc cấp phó được ủy quyền) các cơ quan, đơn vị trực thuộc Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định việc điều chỉnh độ mật của bí mật nhà nước do đơn vị, địa phương ban hành, tạo ra.
3. Bí mật nhà nước sau khi điều chỉnh độ mật phải được đóng dấu, có văn bản hoặc hình thức khác xác định việc tăng, giảm độ mật. Chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày điều chỉnh độ mật phải có văn bản thông báo việc điều chỉnh độ mật của bí mật nhà nước đến cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận được thông báo việc điều chỉnh độ mật phải có trách nhiệm đóng dấu, có văn bản xác định việc điều chỉnh độ mật tương ứng với bí mật nhà nước thuộc phạm vi quản lý.