Điều 5. Thẩm quyền quyết định các hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước
Thẩm quyền quyết định các hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước đối với tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước bao gồm các hoạt động xác định độ mật (theo đề xuất của người soạn thảo, tạo ra thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước); ký ban hành; sao, chụp; thống kê; cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, người Việt Nam; tổ chức các hội nghị, các cuộc họp trên địa bàn thành phố có nội dung bí mật nhà nước; gia hạn, điều chỉnh độ mật; tiêu hủy tài liệu mật và các hoạt động khác liên quan đến bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật và Quy chế này, được quy định như sau:
1. Đối với tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước độ Tuyệt mật:
a) Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố;
b) Các Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố.
2. Đối với tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước độ Tối mật:
a) Những người quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Trưởng, Phó các Ban của Hội đồng nhân dân thành phố; Chánh Văn phòng, các Phó Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân thành phố.
3. Đối với tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước độ Mật:
a) Những người quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Trưởng, Phó các phòng thuộc Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân thành phố.
4. Thẩm quyền quyết định các hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước được xác định căn cứ vào độ mật của tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, đơn vị; thẩm quyền ký ban hành văn bản và sự phân công, phân cấp trong công tác quản lý.
5. Trường hợp người có thẩm quyền quyết định các hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước vắng mặt hoặc không thể trực tiếp giải quyết công việc thì người được phân công, ủy quyền quyết định theo văn bản phân công, ủy quyền và quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị.