Điều 8. Quyền sở hữu, quản lý, sử dụng đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tài sản trang bị để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ
1. Đối với tài sản trang bị thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 193/2025/QH15, sau khi tài sản trang bị hoàn thành mục đích sử dụng trong hoạt động nghiên cứu của nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ căn cứ hồ sơ, chứng từ mua sắm để hạch toán tăng tài sản, giá trị tài sản:
a) Tổ chức chủ trì quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 193/2025/QH15 thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công;
b) Tổ chức chủ trì quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 193/2025/QH15 thực hiện theo quy định tương ứng với loại hình của tổ chức đó.
2. Đối với kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 193/2025/QH15, sau khi kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ được tạo ra, Tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo dõi riêng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 193/2025/QH15. Tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ chịu trách nhiệm lưu giữ các hồ sơ, tài liệu minh chứng quá trình tạo ra kết quả và quá trình xử lý kết quả để phục vụ việc nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ và chịu trách nhiệm giải trình khi cơ quan chức năng yêu cầu.
Tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ tự quyết định việc quản lý, sử dụng, phát huy và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế đối với lợi nhuận thu được khi thương mại hóa kết quả nghiên cứu và các nghĩa vụ khác đối với nhà nước theo quy định về pháp luật về thuế và pháp luật có liên quan.
Cơ quan chủ quản của tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 của Nghị quyết số 193/2025/QH15 có trách nhiệm kiểm tra, giám sát tổ chức chủ trì trong việc sử dụng tài sản bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, phòng ngừa xảy ra thất thoát, lãng phí, tiêu cực.
Sau 02 năm kể từ ngày kết thúc nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, tổ chức chủ trì có trách nhiệm báo cáo về việc quản lý, sử dụng kết quả nghiên cứu gửi cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng hợp gửi bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để tổ chức kiểm tra, đánh giá việc quản lý, sử dụng, phát huy hiệu quả, thương mại hóa kết quả nghiên cứu của tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc phạm vi quản lý theo định kỳ 02 năm một lần.
3. Việc quản lý, sử dụng tài sản là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh mà tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ không phải là cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 193/2025/QH15 được thực hiện như sau:
a) Sau khi nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được nghiệm thu, bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản gửi Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đề nghị tiếp nhận tài sản là kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Văn bản gửi Bộ Quốc phòng, Bộ Công an gồm các nội dung chính sau:
Tên nhiệm vụ khoa học và công nghệ;
Tổ chức chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đơn vị giao tài sản);
Tài sản là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ bàn giao;
Địa điểm dự kiến bàn giao;
Các nội dung khác (nếu có).
Chậm nhất 15 ngày kể từ ngày nhiệm vụ khoa học và công nghệ được nghiệm thu, Tổ chức chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ có trách nhiệm báo cáo bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh các nội dung nêu trên, để làm cơ sở có văn bản gửi Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.
b) Chậm nhất 15 ngày sau khi nhận được văn bản của bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm giao cho cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý tiếp nhận tài sản; đồng thời có văn bản gửi bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và tổ chức chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ để biết và tổ chức thực hiện bàn giao;
c) Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản đề nghị Tổ chức chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ bàn giao kết quả nghiên cứu cho cơ quan, tổ chức, đơn vị được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao tiếp nhận;
d) Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ phải tổ chức thực hiện bàn giao tài sản. Việc bàn giao được lập thành biên bản với những nội dung chính sau:
Bên giao là Tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ;
Bên nhận (Cơ quan, đơn vị do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao tiếp nhận tài sản);
Đại diện cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
Thời gian bàn giao;
Địa điểm bàn giao;
Danh mục tài sản là kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ thực hiện bàn giao;
Hồ sơ liên quan đến tài sản bàn giao (Hợp đồng nhiệm vụ, văn bản nghiệm thu nhiệm vụ và các hồ sơ liên quan đến tài sản bàn giao (nếu có);
Các nội dung khác (nếu có).
đ) Cơ quan, đơn vị được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giao tiếp nhận tài sản là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ thực hiện hạch toán, quản lý, sử dụng, phát huy và thương mại hóa theo quy định áp dụng đối với tổ chức chủ trì nhiệm vụ là cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Điều 7, Điều 8 Nghị quyết số 193/2025/QH15, quy định tại Nghị định này và theo quy định riêng của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an (nếu có);
e) Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng, thương mại hóa kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ được nhận bàn giao từ bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại điểm a khoản này.
4. Việc quản lý, sử dụng kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ mà tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ là tổ chức có yếu tố nước ngoài (tổ chức có pháp nhân nước ngoài, tổ chức có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc phần vốn góp) hoặc tổ chức có trụ sở chính đặt ở nước ngoài quy định tại điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 193/2025/QH15 được thực hiện như sau:
a) Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc giao một cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý tiếp nhận kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc phạm vi quản lý của mình trên cơ sở bảo đảm kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ được ứng dụng phù hợp vào thực tiễn;
b) Chậm nhất 15 ngày kể từ ngày nhiệm vụ khoa học và công nghệ được nghiệm thu, tổ chức chủ trì nhiệm vụ có trách nhiệm bàn giao tài sản cho cơ quan, đơn vị được giao tiếp nhận kết quả quy định tại điểm a khoản này. Việc bàn giao được lập thành biên bản với những nội dung chính sau:
Bên giao là Tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ;
Bên nhận (Cơ quan, đơn vị được bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao tiếp nhận quy định tại điểm a khoản này);
Đại diện cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ (trong trường hợp Cơ quan, đơn vị tiếp nhận không phải là cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ);
Thời gian bàn giao;
Địa điểm bàn giao;
Danh mục tài sản là kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ thực hiện bàn giao;
Hồ sơ liên quan đến tài sản bàn giao (Hợp đồng nhiệm vụ, văn bản nghiệm thu nhiệm vụ và các hồ sơ liên quan đến tài sản bàn giao, nếu có);
Các nội dung khác (nếu có);
c) Cơ quan, đơn vị được giao tiếp nhận tài sản thực hiện theo dõi riêng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 193/2025/QH15 thực hiện quản lý, sử dụng, phát huy và thương mại hóa theo quy định áp dụng đối với tổ chức chủ trì nhiệm vụ là cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Điều 7, Điều 8 Nghị quyết số 193/2025/QH15;
d) Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo định kỳ 02 năm một lần chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra, đánh giá việc quản lý, sử dụng, phát huy, thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã giao theo quy định tại điểm a khoản này;
đ) Trường hợp, cơ quan, đơn vị tại điểm c khoản này chưa có phương án tổ chức ứng dụng kết quả nghiên cứu, mà có tổ chức, cá nhân khác có văn bản đề xuất được tiếp nhận tài sản để ứng dụng thì thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều này.
5. Trường hợp sau 03 năm kể từ ngày kết thúc nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tổ chức chủ trì không triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu mà có tổ chức khác có nhu cầu ứng dụng quy định tại khoản 6 Điều 7 Nghị quyết số 193/2025/QH15 được thực hiện như sau:
a) Tổ chức có nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ khoa học và công nghệ (gọi tắt là tổ chức có nhu cầu ứng dụng) có văn bản gửi cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Kèm theo văn bản đề nghị là phương án ứng dụng kết quả nghiên cứu và các hồ sơ chứng minh năng lực của tổ chức;
b) Tại thời điểm nhận được văn bản của tổ chức có nhu cầu ứng dụng kết quả, cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ có văn bản đề nghị tổ chức chủ trì nhiệm vụ xác nhận việc này;
c) Trường hợp tại thời điểm nhận được văn bản đề xuất của tổ chức có nhu cầu ứng dụng mà tổ chức chủ trì nhiệm vụ chưa có phương án để ứng dụng kết quả nghiên cứu, cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ báo cáo bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để thành lập Hội đồng đánh giá khả năng ứng dụng của tổ chức có nhu cầu ứng dụng.
Hội đồng đánh giá khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu dựa trên phương án, hồ sơ thuyết minh về năng lực do tổ chức có nhu cầu ứng dụng chuẩn bị. Hội đồng đưa ra kết luận về khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu của tổ chức. Tùy theo tính chất, quy mô, phạm vi ứng dụng của kết quả nghiên cứu, bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định về thành phần, số lượng thành viên, phương thức làm việc của Hội đồng đánh giá;
d) Trường hợp Hội đồng kết luận tổ chức có nhu cầu có khả năng ứng dụng đối với kết quả nghiên cứu thì cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ báo cáo bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định thu hồi và giao cho tổ chức có nhu cầu ứng dụng. Việc thu hồi của tổ chức chủ trì và giao cho tổ chức có nhu cầu ứng dụng được thể hiện bằng văn bản hành chính của bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.