Điều 31.
1. Các doanh nghiệp khai thác cảng trong phụ lục danh sách các đơn vị thành viên tại thời điểm thành lập Tổng công ty kèm theo Điều lệ này là thành viên hạch toán độc lập, hoạt động theo pháp luật và Điều lệ riêng do Hội đồng quản trị Tổng công ty phê chuẩn; chịu sự quản lý Nhà nước của cảng vụ, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam và các quy định khác của pháp luật.
2. Doanh nghiệp khai thác cảng được Tổng công ty giao vốn, tài sản, phương tiện, thiết bị, lao động và cơ sở hạ tầng liên quan để tổ chức thực hiện nhiệm vụ kinh doanh, khai thác cảng tại các khu vực cảng được Nhà nước giao cho Tổng công ty ở trong nước hoặc do Tổng công ty thuê ở nước ngoài.
3. Doanh nghiệp khai thác cảng có các nhiệm vụ hành chính như sau:
a. Áp dụng quy trình khai thác cảng tiên tiến; thực hiện nhiệm vụ do Tổng công ty giao; hoàn thành tốt nhiệm vụ khác do Nhà nước giao cho Tổng công ty có liên quan đến cảng (nếu có); đáp ứng nhu cầu của thị trường về vận tải hàng hải:
b. Tổ chức hoạt động kinh doanh, khai thác cầu cảng, bến bãi, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, lực lượng lao động và các nguồn lực khác để thực hiện nhiệm vụ chung của Tổng công ty và các đơn vị thành viên trong Tổng công ty theo kế hoạch phối hợp kinh doanh chung của toàn Tổng công ty;
c. Doanh nghiệp khai thác cảng được lý hợp đồng cho thuê, liên doanh với các đối tác trong nước và ngoài nước để khai thác cầu cảng, bến bãi, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng và các nguồn lực khác theo kế hoạch của Tổng công ty;
d. Hợp tác, liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp khác hoạt động trong lĩnh vực khai thác cảng để nâng cao hiệu quả kinh doanh, góp phần ổn định thị trường, đảm bảo thực hiện có kết quả chiến lược phát triển cảng của Nhà nước.