vanban.org

Điều 3. Tác giả nói tại Luật Xuất bản là cá nhân, tổ chức sáng tạo ra tác phẩm về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật được phổ biên dưới hình thức xuất bản phẩm bằng các thể loại: sáng tác, phóng tác, chuyển thể, biên soạn, tuyển chọn, nghiên cứu, dịch thuật. — Nghị định 79/CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 04/07/2002 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/2 · từ 20/09/2005 Thay thế: 111/2005/NĐ-CP · 26/08/2005 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 59/2002/NĐ-CP · 04/06/2002
Chính phủ Ban hành 06/11/1993 Hiệu lực 20/09/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 21 năm
Nghị định số 79/CP Quy định chi tiết thi hành Luật Xuất bản 1993 · 79/CP
20/09/2005111/2005/NĐ-CPThay thế Đang xem 25/02/1999Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 79/CP › Chương I › Điều 3
Đọc toàn văn

Điều 3. Tác giả nói tại Luật Xuất bản là cá nhân, tổ chức sáng tạo ra tác phẩm về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật được phổ biên dưới hình thức xuất bản phẩm bằng các thể loại: sáng tác, phóng tác, chuyển thể, biên soạn, tuyển chọn, nghiên cứu, dịch thuật.

Tác giả có quyền phổ biến tác phẩm thông qua nhà xuất bản, đứng tên xuất bản phẩm; hưởng nhuận bút theo hợp đồng với nhà xuất bản; cho người khác sử dụng, sửa chữa, chú thích, dịch, chuyển thể, để thừa kế tác phẩm của mình và hưởng các quyền khác theo quy định về quyền tác giả.

Nhà nước bảo hộ quyền tác giả.

Tác giả có quyền khiếu nại với cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền, khởi kiện trước Toà án khi quyền tác giả bị vi phạm.

Tác giả chịu trách nhiệm về nội dung tác phẩm của mình trước pháp luật.