vanban.org

Điều 25. Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính: — Nghị định 77-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 21/07/2004 Sửa đổi, bổ sung: 17/2002/NĐ-CP · 08/02/2002
Chính phủ Ban hành 29/11/1996 Hiệu lực 29/11/1996 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị định · 2 phiên bản · 33 năm
Nghị định số 77-CP Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản 1996 · 77-CP
23/02/200217/2002/NĐ-CPChưa hợp nhất 29/11/1996Bản gốcThay thế Đang xem
Nghị định số 14-CP Ban hành quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng 1992 · 14-CP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 77-CP › Chương III › Mục II › Điều 25
Đọc toàn văn

Điều 25. Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính:

Nguyên tắc xử lý tịch thu lâm sản trái phép, phương tiện vi phạm như sau:

1. Tịch thu lâm sản không có nguồn gốc khai thác, mua, bán hợp pháp, đặc biệt là lâm sản quý, hiếm và loại lâm sản không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép sử dụng.

2. Tịch thu các phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Riêng đối với các phương tiện vận tải được sử dụng để vận chuyển trái phép lâm sản (kể cả phương tiện thuộc sở hữu Nhà nước không bị cá nhân, tổ chức chiếm đoạt) thì chỉ tịch thu trong những trường hợp hành vi vi phạm có tình tiết tăng nặng.

3. Đối với tang vật vi phạm hành chính là hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng thì người ra quyết định xử phạt phải tiến hành lập biên bản và tổ chức bán ngay. Tiền thu được phải nộp vào ngân sách Nhà nước qua tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước.

4. Chủ rừng khi phát hiện, bắt quả tang cá nhân, tổ chức vi phạm gây thiệt hai đến rừng trong lâm phận của mình quản lý thì lập biên bản, tạm giữ lâm sản, phương tiện vi phạm và chuyển hồ sơ cho cơ quan Kiểm lâm sở tại để xử lý. Cơ quan Kiểm lâm sau khi ra quyết định xử phạt người vi phạm thì trả lại lâm sản tịch thu được cho chủ rừng, chủ rừng phải chịu các khoản chi phí thực tế trong việc xử lý của cơ quan Kiểm lâm.

Trường hợp chủ rừng không phát hiện được người vi phạm, thì sau khi quyết định xử phạt người vi phạm, cơ quan Kiểm lâm không phải trả lại lâm sản tịch thu được cho chủ rừng mà bán và nộp vào ngân sách theo quy định hiện hành. Riêng đối với lâm sản của rừng trồng do cá nhân, tổ chức tự bỏ vốn ra gây trồng thì cơ quan Kiểm lâm trả lại lâm sản tịch thu được cho chủ rừng, nhưng chủ rừng phải chịu các khoản chi phí thực tế trong việc xử lý của cơ quan Kiểm lâm.