vanban.org

Điều 4. Trường hợp doanh nghiệp khai thác tài nguyên được thành lập trên cơ sở liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh và hợp đồng chia sản phẩm, thì thuế tài nguyên phải nộp của doanh nghiệp liên doanh hay của Bên nước ngoài phải được xác định trong hợp đồng liên doanh và tính vào phần sản phẩm chia cho Bên Việt Nam. Khi chia sản phẩm khai thác, Bên Việt Nam có trách nhiệm nộp thuế tài nguyên vào ngân sách Nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách. — Nghị định 68/1998/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 19/01/2009 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 19/01/2009 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 05/2009/NĐ- CP VĂN BẢN TRÙNG · 19/01/2009 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 05/2009/NĐ-CP · 19/01/2009
Chính phủ Ban hành 03/09/1998 Hiệu lực 18/09/1998 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 phiên bản · 28 năm
Nghị định số 68/1998/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thuế tài nguyên (sửa đổi) · 68/1998/NĐ-CP
19/01/200905/2009/NĐ- CP VĂN BẢN TRÙNG +1Bãi bỏ Đang xem 28/12/2006147/2006/NĐ-CPSửa đổi 18/09/1998Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 68/1998/NĐ-CP › Chương I › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Trường hợp doanh nghiệp khai thác tài nguyên được thành lập trên cơ sở liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh và hợp đồng chia sản phẩm, thì thuế tài nguyên phải nộp của doanh nghiệp liên doanh hay của Bên nước ngoài phải được xác định trong hợp đồng liên doanh và tính vào phần sản phẩm chia cho Bên Việt Nam. Khi chia sản phẩm khai thác, Bên Việt Nam có trách nhiệm nộp thuế tài nguyên vào ngân sách Nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách.