Điều 2. Chủ sở hữu công ty
1. Doanh nghiệp sau khi chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chỉ có một tổ chức là chủ sở hữu hoặc được ủy quyền là đại diện chủ sở hữu.
2. Các tổ chức sau đây là đại diện chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được chuyển đổi từ công ty nhà nước:
a) Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được chuyển đổi từ công ty nhà nước độc lập trực thuộc Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
Trong thời gian chưa chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu cho Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước thì Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu đối với công ty này.
b) Tổng công ty nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được chuyển đổi từ công ty thành viên hạch toán độc lập, đơn vị hạch toán phụ thuộc, đơn vị phụ thuộc của tổng công ty;
c) Công ty nhà nước độc lập, công ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được chuyển đổi từ đơn vị phụ thuộc của công ty
3. Các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội trực tiếp là chủ sở hữu hoặc chỉ định một tổ chức là đại diện chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên của tổ chức mình.
4. Các cơ quan nhà nước không được ủy quyền là đại diện chủ sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo điểm a khoản 2 Điều này chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo quy định tại Luật Doanh nghiệp và các quy định có liên quan của pháp luật đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong lĩnh vực được phân công phụ trách.