vanban.org

Điều 37. — Nghị định 385-HĐBT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 20/10/1994 Thay thế: 177-CP · 20/10/1994
Hội đồng Bộ trưởng Ban hành 07/11/1990 Hiệu lực 20/10/1994 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị định · 3 phiên bản · 32 năm
Nghị định số 177-CP Về việc ban hành Điều lệ Quản lý đầu tư và xây dựng 1994 · 177-CP
Nghị định số 385-HĐBT Về việc sửa đổi, bổ sung thay thế Điều lệ quản lý xây dựng cơ bản đã ban hành kèm theo Nghị định 232-CP ngày 06-06-1981 · 385-HĐBT
20/10/1994Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 385-HĐBT › Chương V › Điều 37
Đọc toàn văn

Điều 37.

Sử dụng các nguồn vốn.

1. Vốn Nhà nước đầu tư cho những công trình sản xuất then chốt của nền kinh tế, những công trình kết cấu hạ tầng quan trọng một số công trình sự nghiệp văn hoá xã hội, khoa học kỹ thuật quan trọng, công trình an ninh quốc phòng và quản lý Nhà nước. Khi cần thiết Nhà nước có thể gọi vốn trong và ngoài nước để đầu tư cho những công trình trên, trừ công trình an ninh quốc phòng và quản lý Nhà nước. 2. Vốn tín dụng đầu tư dùng để:

a. Đầu tư xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, đổi mới kỹ thuật và công nghệ các công trình sản xuất kinh doanh dịch vụ có hiệu quả, có khả năng thu hồi vốn và có đủ điều kiện vay vốn theo quy định của ngân hàng đầu tư và phát triển.

b. những công trình thuộc các mục tiêu trọng điểm của Nhà nước có thời hạn thu hồi vốn dài đã được xác định trong cơ cấu kế hoạch đầu tư của Nhà nước thì được ưu tiên vay tín dụng đầu tư với lãi xuất khuyến khích. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trình Hội đồng Bộ trưởng về tỷ lệ lãi suất thích hợp với loại công trình này.

3. Vốn xí nghiệp tích luỹ được dùng để đầu tư xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, đổi mới kỹ thuật và công nghệ các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các công trình phúc lợi cho công nhân viên chức của đơn vị. Trường hợp vốn xí nghiệp không đủ thì xí nghiệp huy động các nguồn vốn khác ở trong và ngoài nước và chịu trách nhiệm sử dụng có hiệu quả, hoàn trả số vốn đó theo quy định của Nhà nước.

4. Vốn vay nước ngoài của các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ do đơn vị tự vay, tự trả nợ vay và lãi cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Trường hợp các tổ chức, cá nhân nước ngoài yêu cầu Ngân hàng bảo lãnh thì Ngân hàng thẩm tra dự án vay và chấp nhận bảo lãnh số vốn vay nếu dự án đó bảo đảm các điều kiện trả nợ.

5. Vốn viện trợ không hoàn lại thuộc lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản được cân đối trong ngân sách và đưa vào kế hoạch đầu tư của Nhà nước. Riêng với những đối tượng cụ thể được viện trợ trực tiếp thì tổ chức được viện trợ được quyền sử dụng khoản viện trợ đó đúng mục đích và quyết toán với Bộ Tài chính. Trường hợp viện trợ chỉ đáp ứng được một phần công trình mà chủ đầu tư không có khả năng tự bổ sung hoặc không có khả năng thu hẹp quy mô xây dựng công trình thì chủ đầu tư phải vay vốn và chịu trách nhiệm tự hoàn trả số vốn vay đó. Những công trình đề nghị hỗ trợ bằng vốn Nhà nước thì phải có dự án trình Nhà nước trước khi ký kết xin viện trợ.

6. Vốn hợp tác, liên doanh với nước ngoài sử dụng theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trường hợp các đơn vị kinh tế góp vốn liên doanh với nước ngoài bằng các nguồn tài nguyên; quyền sử dụng đất đai, mặt nước, mặt biển, nhà xưởng thiết bị và công trình xây dựng khác thuộc sở hữu Nhà nước thì phải làm thủ tục nhận vốn và có trách nhiệm hoàn trả vốn cho Nhà nước theo quy định của Bộ Tài chính.

7. Vốn đóng góp của nhân dân bằng tiền, vật liệu hoặc công lao động chủ yếu sử dụng vào các công trình hoặc lĩnh vực đem lại lợi ích thiết thực trực tiếp cho bản thân người góp vốn (như các công trình thuỷ lợi, nội đồng, giao thông nông thôn, các công trình phúc lợi công cộng).

8. Một công trình đầu tư có thể sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau, theo quy định tại điều 6 của Điều lệ này.

9. Cơ quan kế hoạch và tài chính các cấp có trách nhiệm kiểm tra việc sử dụng vốn đầu tư.