vanban.org

Điều 4 . — Nghị định 36/2001/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 05/04/2003 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 05/04/2003 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 14/2003/NĐ-CP · 19/02/2003
Chính phủ Ban hành 10/07/2001 Hiệu lực 25/07/2001 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị định · 4 phiên bản · 28 năm
Nghị định số 36/2001/NĐ-CP Về việc bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị. · 36/2001/NĐ-CP
05/04/200314/2003/NĐ-CPBãi bỏ Đang xem 25/07/2001Bản gốcThay thế
Nghị định số 75/1998/NĐ-CP Về việc bổ sung, sửa đổi một số điều của Nghị định số 36/CP ngày 29/5/1995 của Chính phủ · 75/1998/NĐ-CP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 36/2001/NĐ-CP › Chương I › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4 .

1. Mọi hành vi vi phạm về trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị phải được xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng vi phạm, đúng pháp luật. Khi xử lý, phải căn cứ vào lỗi của người vi phạm không được phân biệt đối tượng là người đi bộ, người điều khiển phương tiện thô sơ hay cơ giới. Thực hiện mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Đối với phương tiện tham gia giao thông thuê người lái xe, cần phân biệt trách nhiệm của người lái và của chủ sở hữu phương tiện.

2. Những người lợi dụng xảy ra tai nạn mà xúi giục, gây sức ép, làm cản trở cho việc xử lý cũng bị xử lý theo pháp luật.

3. Những người thi hành công vụ về trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị như tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm, cấp Giấy phép lái xe, kiểm tra an toàn kỹ thuật, đăng ký phương tiện không làm tròn trách nhiệm, sách nhiễu, gây phiền hà bị xử lý nghiêm theo pháp luật.