Điều 30. Người bị thương từ 31 tháng 12 năm 1994 trở về trước được xác nhận là thương binh, người hưởng chính sách như thương binh thì giải quyết như sau:
1. Những quân nhân, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương trong kháng chiến mà không kết luận tỷ lệ mất sức lao động do thương tật và đã được xếp vào 4 hạng thương binh theo quy định tại Nghị định số 236/HĐBT ngày 18 tháng 9 năm 1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), nay thống nhất tính trợ cấp thương tật theo tỷ lệ mất sức lao động cụ thể như sau:
Hạng 5/6 cũ (hạng 4/4) = tỷ lệ mất sức lao động 21%
Hạng 4/6 cũ (hạng 4/4) = tỷ lệ mất sức lao động 31%
Hạng 3/6 cũ (hạng 3/4) = tỷ lệ mất sức lao động 51%
Hạng 2/6 cũ (hạng 2/4) = tỷ lệ mất sức lao động 71%
Hạng 1/6 cũ (hạng 1/4) = tỷ lệ mất sức lao động 81%
Hạng đặc biệt cũ (hạng 1/4)= tỷ lệ mất sức lao động 91%
2. Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh đã được kết luận tỷ lệ mất sức lao động do thương tật thì căn cứ tỷ lệ thương tật xác định trong biên bản giám định y khoa lưu tại hồ sơ chuyển sang hưởng trợ cấp hàng tháng theo như quy định tại Điều 29 trên.
3. Trường hợp khi bị thương có mức lương cao hơn mức lương quy định (312.000 đồng) thì ngoài trợ cấp hàng tháng quy định tại Điều 29 của Nghị định này được trợ cấp thêm một lần một khoản tiền từ 1 đến 4 tháng lương khi bị thương tuỳ theo mức độ mất sức lao động như sau:
| Mức độ mất sức lao động | Mức trợ cấp một lần |
| Từ 21% đến 40% sức lao động | - 1 tháng lương khi bị thương |
| Từ 41% đến 60% sức lao động | - 2 tháng lương khi bị thương |
| Từ 61% đến 80% sức lao động | - 3 tháng lương khi bị thương |
| Từ 81% đến 100% sức lao động | - 4 tháng lương khi bị thương |