vanban.org

Điều 20. Những trường hợp được xét giảm thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều 28 Luật thuế giá trị gia tăng được quy định cụ thể như sau: — Nghị định 28/1998/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2001 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 24/05/2000 Thay thế: 79/2000/NĐ-CP · 29/12/2000 Sửa đổi, bổ sung: 102/1998/NĐ-CP · 21/12/1998
Chính phủ Ban hành 11/05/1998 Hiệu lực 01/01/1999 Hết hiệu lực toàn bộ 5 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 6 đời nghị định · 21 phiên bản · 27 năm
Nghị định số 181/2025/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng · 181/2025/NĐ-CP
Nghị định số 123/2008/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng · 123/2008/NĐ-CP
Nghị định số 158/2003/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng · 158/2003/NĐ-CP
Nghị định số 79/2000/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng · 79/2000/NĐ-CP
Nghị định số 28/1998/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành Luật thuế trị giá gia tăng · 28/1998/NĐ-CP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 28/1998/NĐ-CP › Chương V › Điều 20
Đọc toàn văn

Điều 20. Những trường hợp được xét giảm thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều 28 Luật thuế giá trị gia tăng được quy định cụ thể như sau:

1. Đối với những cơ sở sản xuất, xây dựng, vận tải trong những năm đầu áp dụng thuế giá trị gia tăng mà bị lỗ do số thuế giá trị gia tăng phải nộp lớn hơn số thuế tính theo mức thuế doanh thu trước đây thì được xét giảm thuế giá trị gia tăng phải nộp.

2. Mức được xét giảm thuế giá trị gia tăng đối với từng cơ sở tương ứng với số lỗ do nguyên nhân nêu trên, nhưng tối đa không vượt quá 50% số thuế phải nộp của hoạt động sản xuất, xây dựng, vận tải của năm được xét giảm thuế.

Những cơ sở hoạt động sản xuất, xây dựng, vận tải thuộc đối tượng được xét giảm thuế giá trị gia tăng nếu có hoạt động kinh doanh ngành nghề khác thì việc xét giảm thuế giá trị gia tăng chỉ thực hiện đối với các hoạt động sản xuất, xây dựng, vận tải.

3. Thời gian giảm thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều này được xét từng năm tính theo năm dương lịch và chỉ thực hiện trong thời gian ba năm đầu, kể từ năm 1999 là năm Luật thuế giá trị gia tăng có hiệu lực thi hành.

Việc xét giảm thuế được căn cứ vào kết quả kinh doanh và quyết toán thuế của cơ sở kinh doanh; đối với những cơ sở chưa có quyết toán mà dự toán năm phát sinh lỗ, để giảm bớt khó khăn về tài chính cho cơ sở, cơ quan thuế xem xét, giải quyết cho tạm giảm thuế. Mức cho tạm giảm được căn cứ vào dự toán năm và tình hình thực tế kinh doanh năm trước của cơ sở, nhưng tối đa không quá 70% số dự tính được giảm theo Luật định.

Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục và quy định thẩm quyền xét giảm thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều này.