Điều 19. Chế độ báo cáo
1. Định kỳ hàng quý, năm, Bảo hiểm xã hội Việt Nam có trách nhiệm báo cáo Hội đồng quản lý, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Y tế về tình hình đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Nghị định này.
2. Nội dung, số liệu báo cáo thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này kèm theo các chỉ tiêu thuyết minh chính như sau:
a) Tình hình thực hiện đầu tư trong kỳ báo cáo và lũy kế từ đầu năm đến cuối kỳ báo cáo, trong đó bao gồm các chỉ tiêu: số dư đầu tư đầu kỳ, số đầu tư trong kỳ, số thu hồi gốc trong kỳ, số dư đầu tư cuối kỳ (chi tiết theo từng quỹ thành phần); đối với số đầu tư trong kỳ, báo cáo chi tiết theo từng sản phẩm đầu tư (kỳ hạn đầu tư, lãi suất đầu tư);
b) Số tiền sinh lời của hoạt động đầu tư trong kỳ theo từng sản phẩm đầu tư, lũy kế từ đầu năm đến cuối kỳ;
c) Đánh giá việc đáp ứng phương án đầu tư hằng năm và chiến lược đầu tư dài hạn;
d) Tình hình trích lập và sử dụng quỹ dự phòng rủi ro trong kỳ báo cáo;
đ) Các nội dung khác (nếu có).
3. Thời hạn gửi báo cáo: Chậm nhất là ngày 15 tháng đầu tiên của quý sau liền kề đối với báo cáo quý, chậm nhất là ngày 31 tháng 01 năm sau đối với báo cáo năm.
4. Phương thức gửi báo cáo: Báo cáo được lập dưới hình thức văn bản giấy hoặc văn bản điện tử và gửi theo một trong các phương thức sau:
a) Gửi trực tiếp;
b) Gửi qua dịch vụ bưu chính;
c) Gửi qua hệ thống điện tử.
5. Trường hợp cần thiết theo yêu cầu của Hội đồng quản lý và các bộ, ngành có liên quan, Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện chế độ báo cáo đột xuất.