vanban.org

Điều 43. Cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức khác — Nghị định 160/2006/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 05/09/2014 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 05/09/2014 Thay thế: 70/2014/NĐ-CP · 17/07/2014 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 219/2013/NĐ-CP · 26/12/2013
Chính phủ Ban hành 28/12/2006 Hiệu lực 27/01/2007 Hết hiệu lực toàn bộ 32 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 3 đời nghị định · 5 phiên bản · 20 năm
Nghị định số 70/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối · 70/2014/NĐ-CP
Nghị định số 160/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối · 160/2006/NĐ-CP
05/09/201470/2014/NĐ-CPThay thế Đang xem 15/02/2014219/2013/NĐ-CPBãi bỏ 27/01/2007Bản gốcThay thế
Nghị định số 131/2005/NĐ-CP Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/1998/NĐ-CP ngày 17 tháng 08 năm 1998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối · 131/2005/NĐ-CP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 160/2006/NĐ-CP › Chương VI › Mục 1 › Điều 43
Đọc toàn văn

Điều 43. Cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức khác

1. Dịch vụ đại lý đổi ngoại tệ cho tổ chức tín dụng 

Tổ chức kinh tế được làm đại lý đổi ngoại tệ cho tổ chức tín dụng được phép khi được uỷ nhiệm. Việc uỷ nhiệm đổi ngoại tệ phải được thực hiện trên cơ sở ký kết hợp đồng đại lý đổi ngoại tệ giữa tổ chức tín dụng và tổ chức kinh tế được uỷ nhiệm và phải đăng ký với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

2. Dịch vụ nhận và chi, trả ngoại tệ 

a) Tổ chức kinh tế làm đại lý cung ứng dịch vụ nhận và chi trả ngoại tệ cho tổ chức tín dụng phải đăng ký với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tổ chức kinh tế trực tiếp cung ứng dịch vụ nhận và chi, trả ngoại tệ phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp giấy phép;

b) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ, thủ tục đăng ký, cấp giấy phép cho tổ chức kinh tế cung ứng dịch vụ nhận và chi, trả ngoại tệ.

3. Cung ứng dịch vụ ngoại hối khác:

Các tổ chức kinh tế chỉ được thực hiện cung ứng dịch vụ ngoại hối ngoài các nội dung quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này sau khi được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp giấy phép.