Điều 24. Xử lý tang vật, phương tiện
1. Tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là văn hoá phẩm độc hại, vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi, cây trồng bị buộc tiêu huỷ hoặc tang vật vi phạm hành chính là hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng thì người có thẩm quyền tịch thu xử lý theo quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 61 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Điều 32 của Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ.
2. Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nếu không biết rõ chủ sở hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp hoặc những người này không đến nhận thì người có thẩm quyền tịch thu phải thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương hoặc Trung ương ít nhất là hai lần liên tiếp và phải niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tịch thu trong thời hạn 30 ngày. Sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo và niêm yết công khai, nếu không xác định được chủ sở hữu, người quản lý, người sử dụng hợp pháp hoặc những người này không đến nhận thì người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm để xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 61 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
3. Đối với tang vật, phương tiện bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để thực hiện hành vi vi phạm hành chính thì trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp.
4. Thủ tục tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia thực hiện theo quy định tại Điều 60 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
5. Chi phí kho, bến bãi, phí bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và các chi phí khác phù hợp với quy định của pháp luật được trừ vào tiền bán tang vật, phương tiện, xử phạt vi phạm hành chính.