vanban.org

Điều 5. Thời hiệu xử phạt và thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính — Nghị định 126/2005/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 31/07/2009 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 31/07/2009 Thay thế: 54/2009/NĐ-CP · 05/06/2009 Sửa đổi, bổ sung: 95/2007/NĐ-CP · 04/06/2007
Chính phủ Ban hành 10/10/2005 Hiệu lực 01/11/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời nghị định · 13 phiên bản · 29 năm
Nghị định số 119/2017/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa · 119/2017/NĐ-CP
Nghị định số 80/2013/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa · 80/2013/NĐ-CP
Nghị định số 54/2009/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa · 54/2009/NĐ-CP
Nghị định số 126/2005/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hoá · 126/2005/NĐ-CP
31/07/200954/2009/NĐ-CPThay thế Đang xem 17/07/200795/2007/NĐ-CPSửa đổi 01/11/2005Bản gốcThay thế
Nghị định số 57/CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng hàng hoá 1997 · 57/CP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 126/2005/NĐ-CP › Chương I › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Thời hiệu xử phạt và thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính

1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính được quy định tại Nghị định này là một năm kể từ ngày hành vi vi phạm hành chính được thực hiện; thời hạn trên được tính là hai năm đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thuộc Danh mục sản phẩm, hàng hoá phải kiểm tra về chất lượng do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Nếu quá thời hạn nói trên thì không bị xử phạt nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại khoản 3 Điều 4 của Nghị định này.

2. Đối với cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hoá mà bị khởi tố, truy tố hoặc có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự, nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi đó vi phạm hành chính thì bị xử phạt hành chính; trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, người đã ra quyết định phải gửi quyết định cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hoá; trong trường hợp này, thời hiệu xử phạt hành chính là (03) ba tháng kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm.

3. Nếu trong thời hạn quy định tại các khoản 1, khoản 2 của Điều này mà cá nhân, tổ chức vi phạm lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính mới trong lĩnh vực đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hoá hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu nói trên; thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm thực hiện hành vi vi phạm mới hoặc thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh cản trở.

4. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hoá, nếu qua một năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.