Điều 24. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại của Uỷ ban nhân dân các cấp:
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có quyền:
a) Phạt cảnh cáo.
b) Phạt tiền đến 200.000 đồng.
c) Tịch thu hàng hoá, tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 500.000 đồng.
d) Buộc bồi thường thiệt hại đến 500.000 đồng do vi phạm hành chính gây ra.
e) Buộc khôi phục tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra.
g) Đình chỉ hoạt động gây ô nhiễm môi trường hoặc làm lây lan dịch bệnh.
h) Tiêu huỷ những hàng hoá gây hại cho sức khoẻ con người.
2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có quyền:
a) Phạt cảnh cáo.
b) Phạt tiền đến 10.000.000 đồng.
c) Tịch thu hàng hoá, tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính có trị giá đến 100.000.000 đồng.
d) Tước quyền sử dụng Giấy phép kinh doanh thương mại do quận, huyện cấp đến 1 (một) năm.
e) Buộc bồi thường thiệt hại đến 1.000.000 đồng do vi phạm hành chính gây ra.
g) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra.
h) Buộc tiêu huỷ theo quy định hàng hoá gây hại cho sức khoẻ con người, văn hoá phẩm độc hại.
3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyền:
a) Phạt cảnh cáo.
b) Phạt tiền đến 100.000.000 đồng.
c) Tịch thu hàng hoá, tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính.
d) Tước quyền sử dụng Giấy phép kinh doanh thương mại, Đăng ký kinh doanh thương mại do tỉnh, thành phố cấp.
e) Áp dụng các biện pháp xử phạt khác quy định tại điểm e, g, h khoản 2 điều này.