vanban.org

Điều 8. Triệu tập và bảo vệ người làm chứng, người giám định — Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2026 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 01/07/2026 Thay thế: 102/2025/QH15 · 26/11/2025 Thay thế: 100/2025/QH15 · 26/11/2025
Quốc hội Ban hành 21/11/2007 Hiệu lực 01/07/2008 Hết hiệu lực toàn bộ 27 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 đời luật · 4 phiên bản · 18 năm
Luật Tương trợ tư pháp về dân sự 2025 · 102/2025/QH15
Luật Tương trợ tư pháp 2007 · 08/2007/QH12
01/07/2026102/2025/QH15 +3Sửa đổi Đang xem 01/07/202581/2025/QH15Sửa đổi 01/07/2008Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 08/2007/QH12 › Chương I › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8. Triệu tập và bảo vệ người làm chứng, người giám định

1. Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền có thể triệu tập người làm chứng, người giám định theo quy định của Luật này và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

2. Trong giấy triệu tập phải ghi rõ điều kiện làm chứng, giám định và cam kết về việc bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, điều kiện ăn ở, đi lại cho người làm chứng, người giám định.

3. Người làm chứng, người giám định được tạo điều kiện thuận lợi trong nhập cảnh, xuất cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

4. Người làm chứng, người giám định được triệu tập đến Việt Nam không bị bắt, bị tạm giam, tạm giữ hoặc bị điều tra, truy tố, xét xử vì những hành vi sau đây trước khi đến Việt Nam:

a) Cung cấp lời khai làm chứng, bản kết luận chuyên môn đối với vụ án mà người đó được triệu tập;

b) Phạm tội ở Việt Nam;

c) Có quan hệ với đối tượng đang bị điều tra, truy tố, xét xử về hình sự tại Việt Nam;

d) Có liên quan đến vụ việc dân sự hoặc hành chính khác tại Việt Nam.

5. Quyền không bị bắt, bị tạm giam, tạm giữ hoặc bị điều tra, truy tố, xét xử của người làm chứng, người giám định quy định tại khoản 4 Điều này chấm dứt nếu người đó không rời Việt Nam sau thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được thông báo bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam về việc không cần thiết sự có mặt của họ tại Việt Nam. Thời hạn này không tính vào thời gian mà người làm chứng, người giám định không thể rời Việt Nam vì lý do bất khả kháng.