vanban.org

Điều 31. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao — Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2025 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/01/2025 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 34/2024/QH15 · 24/06/2024
Quốc hội Ban hành 24/11/2014 Hiệu lực 01/06/2015 Hết hiệu lực toàn bộ 38 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 8 phiên bản · 66 năm
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 · 62/2014/QH13
01/01/202534/2024/QH15 +1Sửa đổi Đang xem 01/06/2015Bản gốcThay thế
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002 · 33/2002/QH10
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 1960
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 62/2014/QH13 › Chương III › Mục 1 › Điều 31
Đọc toàn văn

Điều 31. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao

1. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm Chánh án, các Phó Chánh án là Thẩm phán cao cấp và một số Thẩm phán cao cấp do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao.

Số lượng thành viên Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao không dưới mười một người và không quá mười ba người.

2. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng;

b) Thảo luận, góp ý kiến đối với báo cáo của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao về công tác của Tòa án nhân dân cấp cao để báo cáo Tòa án nhân dân tối cao.

3. Phiên họp của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia; quyết định của Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.