vanban.org

Điều 36 — Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân số Không số

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 11/07/1989 Thay thế: 19/LCT/HĐNN8 · 30/06/1989
Quốc hội Ban hành 30/06/1983 Hiệu lực 30/06/1983 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 6 phiên bản · 63 năm
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2003 · 11/2003/QH11
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1994
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1989 · 19/LCT/HĐNN8
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1983
30/06/1983Bản gốcThay thế Đang xem
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp 1962 · Số hiệu: 51/LCT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật Không số › Chương V › Điều 36
Đọc toàn văn

Điều 36

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Uỷ ban nhân dân, các thành viên của Uỷ ban nhân dân, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân và Toà án nhân dân cùng cấp.

Khi đại biểu chất vấn Uỷ ban nhân dân thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân hoặc một thành viên khác được Uỷ ban nhân dân uỷ nhiệm trả lời ; khi đại biểu chất vấn thành viên nào của Uỷ ban nhân dân thì thành viên đó trả lời. Khi đại biểu chất vấn cơ quan chuyên môn nào thuộc Uỷ ban nhân dân thì thành viên của Uỷ ban nhân dân hoặc thủ trưởng cơ quan đó được Uỷ ban nhân dân uỷ nhiệm trả lời. Khi đại biểu chất vấn Toà án nhân dân thì Chánh án Toà án nhân dân trả lời.

Cơ quan hoặc người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân. Trong trường hợp cần điều tra thì Hội đồng nhân dân quyết định cho trả lời tại kỳ họp sau.

Khi cần thiết, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về việc trả lời và trách nhiệm của cơ quan hoặc người bị chất vấn.