vanban.org

Điều 21 — Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân số Không số

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 11/07/1989 Thay thế: 19/LCT/HĐNN8 · 30/06/1989
Quốc hội Ban hành 30/06/1983 Hiệu lực 30/06/1983 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 6 phiên bản · 63 năm
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2003 · 11/2003/QH11
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1994
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1989 · 19/LCT/HĐNN8
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1983
30/06/1983Bản gốcThay thế Đang xem
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp 1962 · Số hiệu: 51/LCT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật Không số › Chương III › Điều 21
Đọc toàn văn

Điều 21

Hội đồng nhân dân các cấp ba tháng họp một kỳ.

ở miền núi, nơi nào đi lại khó khăn, thì Hội đồng nhân dân tỉnh và huyện có thể sáu tháng họp một kỳ.

Kỳ họp Hội đồng nhân dân do Uỷ ban nhân dân cùng cấp triệu tập theo đúng kỳ hạn.

Uỷ ban nhân dân các cấp có thể triệu tập kỳ họp bất thường của Hội đồng nhân dân cấp mình khi xét thấy cần thiết, hoặc khi có ít nhất là một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình yêu cầu.

Kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khoá mới do Uỷ ban nhân dân cùng cấp khoá trước triệu tập chậm nhất là 30 ngày sau khi bầu xong đại biểu Hội đồng nhân dân.

ở miền núi, nơi nào đi lại khó khăn, thì kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân tỉnh có thể được triệu tập chậm nhất là 45 ngày sau khi bầu xong đại biểu Hội đồng nhân dân.

Hội đồng nhân dân bầu ra Đoàn Chủ tịch và Đoàn thư ký của kỳ họp theo danh sách do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và các tổ trưởng tổ đại biểu Hội đồng nhân dân giới thiệu chung.