vanban.org

Điều 32. — Luật Phòng, chống ma túy số 23/2000/QH10

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2022 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 01/01/2022 Thay thế: 73/2021/QH14 · 30/03/2021 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 16/2008/QH12 · 03/06/2008
Quốc hội Ban hành 09/12/2000 Hiệu lực 01/06/2001 Hết hiệu lực toàn bộ 3.141 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 đời luật · 6 phiên bản · 25 năm
Luật Phòng, chống ma túy 2000 · 23/2000/QH10
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 23/2000/QH10 › Chương IV › Điều 32
Đọc toàn văn

Điều 32.

1.Trong cơ sở cai nghiện, những người nghiện ma tuý say đây phải được bốtrí vào các khu vực tách riêng với những người nghiện ma tuý khác để quản lý vàchữa bệnh:

a)Người chưa thành niên;

b)Phụ nữ;

c)Người có bệnh truyền nhiễm nguy hiểm;

d)Người đã cai nghiện nhiều lần hoặc có hành vi gây rối trật tự.

2.Cơ sở cai nghiện ma tuý có trách nhiệm thực hiện đúng phương pháp cai nghiện đãđược cơ quan có thẩm quyền duyệt; tổ chức lao động, học tập, chữa bệnh cho ngườicai nghiện ma tuý.

3.Người đứng đầu cơ sở cai nghiện ma tuý được quyết định áp dụng các biện pháp cưỡngchế theo quy định của pháp luật để quản lý chặt chẽ, giáo dục, chữa bệnh cho ngườicai nghiện và yêu cầu chính quyền địa phương, lực lượng vũ trang nhân dân giúpđỡ khi cần thiết.

Chínhquyền địa phương, lực lượng vũ trang nhân dân có trách nhiệm phối hợp thực hiệncác biện pháp bảo vệ cơ sở cai nghiện ma tuý và hỗ trợ cán bộ, công chức, nhânviên tại các cơ sở này khi có yêu cầu.

4.Cơ sở cai nghiện ma tuý phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khoẻ,tài sản của người cai nghiện ma tuý.