vanban.org

Điều 19. Chức danh nghiên cứu khoa học, chức danh công nghệ — Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/10/2025 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 4/4 · từ 01/10/2025 Sửa đổi, bổ sung: 28/2018/QH14 · 15/06/2018
Quốc hội Ban hành 18/06/2013 Hiệu lực 01/01/2014 Hết hiệu lực toàn bộ 2 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 đời luật · 6 phiên bản · 25 năm
Luật Khoa học và công nghệ 2013 · 29/2013/QH13
Luật Khoa học và Công nghệ 2000 · 21/2000/QH10
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 29/2013/QH13 › Chương III › Điều 19
Đọc toàn văn

Điều 19. Chức danh nghiên cứu khoa học, chức danh công nghệ

1. Chức danh nghiên cứu khoa học là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực nghiên cứu khoa học của cá nhân hoạt động trong lĩnh vực khoa học, gồm trợ lý nghiên cứu, nghiên cứu viên, nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên cao cấp. Cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ tham gia giảng dạy, đào tạo đại học, sau đại học đ­ược xét bổ nhiệm giáo s­ư, phó giáo sư.­ Thủ tục xét bổ nhiệm thực hiện theo quy định của pháp luật về giáo dục đại học.

2. Chức danh công nghệ là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của cá nhân hoạt động trong từng lĩnh vực công nghệ. Chính phủ quy định cụ thể chức danh công nghệ, thủ tục, quy trình xét công nhận, bổ nhiệm chức danh nghiên cứu khoa học, chức danh công nghệ.

3. Ng­ười có học vị tiến sĩ hoặc có công trình nghiên cứu khoa học và công nghệ xuất sắc hoặc đ­ược giải th­ưởng cao về khoa học và công nghệ được xét công nhận, bổ nhiệm vào chức danh nghiên cứu khoa học, chức danh công nghệ cao hơn không phụ thuộc vào năm công tác.

4. Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan quy định hệ thống danh mục, tiêu chuẩn và mã số chức danh nghiên cứu khoa học, chức danh công nghệ.