vanban.org

Điều 15. Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật — Luật Hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 01/01/2015 Thay thế: 52/2014/QH13 · 19/06/2014 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 52/2010/QH12 · 17/06/2010
Quốc hội Ban hành 09/06/2000 Hiệu lực 01/01/2001 Hết hiệu lực toàn bộ 52 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 4 đời luật · 7 phiên bản · 66 năm
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 · 52/2014/QH13
Luật Hôn nhân và gia đình 2000 · 22/2000/QH10
01/01/201552/2014/QH13Sửa đổi Đang xem 01/01/201152/2010/QH12Sửa đổi 01/01/2001Bản gốcThay thế
Luật Hôn nhân và gia đình 1986
Luật Hôn nhân và gia đình 1959
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 22/2000/QH10 › Chương II › Điều 15
Đọc toàn văn

Điều 15. Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

1. Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật này.

2. Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và Điều 10 của Luật này.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và Điều 10 của Luật này:

a) Vợ, chồng, cha, mẹ, con của các bên kết hôn;

b) Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;

c)  Hội liên hiệp phụ nữ.

4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.