vanban.org

Điều 56 — Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số Không số

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 11/07/1989 Thay thế: 20-LCT/HĐNN8 · 30/06/1989
Quốc hội Ban hành 26/12/1983 Hiệu lực 02/01/1984 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 7 phiên bản · 42 năm
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 · 85/2015/QH13
Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân 2003 · 12/2003/QH11
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1994
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1989 · 20-LCT/HĐNN8
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1983
02/01/1984Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật Không số › Chương VII › Mục 4 › Điều 56
Đọc toàn văn

Điều 56

Biên bản tổng kết phải ghi rõ:

- Tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân;

- Tổng số người được giới thiệu ra ứng cử;

- Tổng số cử tri;

- Số cử tri đã đi bầu, số cử tri không đi bầu, tỷ lệ số cử tri

đã đi bầu so với tổng số cử tri;

- Số phiếu hợp lệ;

- Số phiếu không hợp lệ;

- Số phiếu trắng;

- Danh sách những người trúng cử và số phiếu bầu cho mỗi người;

- Các việc quan trọng đã xẩy ra và cách giải quyết.

Biên bản làm thành hai bản, có chữ ký của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và Thư ký Hội đồng bầu cử; một bản gửi Uỷ ban nhân dân cấp bầu Hội đồng nhân dân, một bản gửi Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp. Nếu là cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương thì biên bản làm thành ba bản, một bản gửi Uỷ ban nhân dân, một bản gửi Hội đồng bộ trưởng và một bản gửi Hội đồng Nhà nước.