vanban.org

Điều 50 — Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số Không số

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 11/07/1989 Thay thế: 20-LCT/HĐNN8 · 30/06/1989
Quốc hội Ban hành 26/12/1983 Hiệu lực 02/01/1984 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 7 phiên bản · 42 năm
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 · 85/2015/QH13
Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân 2003 · 12/2003/QH11
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1994
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1989 · 20-LCT/HĐNN8
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1983
02/01/1984Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật Không số › Chương VII › Mục 2 › Điều 50
Đọc toàn văn

Điều 50

Sau khi nhận được biên bản của các Tổ bầu cử, Ban bầu cử kiểm tra các biên bản đó và lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình.

Biên bản phải ghi rõ:

- Số đại biểu Hội đồng nhân dân ấn định cho đơn vị bầu cử;

- Số người được giới thiệu ra ứng cử;

- Tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử;

- Số cử tri đã đi bầu, số cử tri không đi bầu, tỷ lệ số cử tri

đã đi bầu so với tổng số cử tri;

- Số phiếu hợp lệ;

- Số phiếu không hợp lệ;

- Số phiếu trắng;

- Số phiếu bầu cho mỗi người được giới thiệu ra ứng cử;

- Danh sách những người trúng cử;

- Những khiếu nại do Tổ bầu cử đã giải quyết;

- Những khiếu nại do Ban bầu cử đã giải quyết, những khiếu nại

chuyển lên Hội đồng bầu cử giải quyết.

Biên bản làm thành hai bản, có chữ ký của Trưởng ban, Phó trưởng ban và thư ký, một bản gửi Hội đồng bầu cử, một bản gửi Uỷ ban nhân dân cùng cấp với Ban bầu cử.