vanban.org

Điều 18 — Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số Không số

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 11/07/1989 Thay thế: 20-LCT/HĐNN8 · 30/06/1989
Quốc hội Ban hành 26/12/1983 Hiệu lực 02/01/1984 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 7 phiên bản · 42 năm
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 · 85/2015/QH13
Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân 2003 · 12/2003/QH11
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1994
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1989 · 20-LCT/HĐNN8
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1983
02/01/1984Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật Không số › Chương III › Điều 18
Đọc toàn văn

Điều 18

Chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Uỷ ban nhân dân cấp ấy bàn với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử một Ban bầu cử từ năm đến mười lăm người gồm đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các chính đảng, các đoàn thể nhân dân trong địa phương.

Ban bầu cử bầu Trưởng ban, một hoặc nhiều Phó trưởng ban và một hoặc nhiều Thư ký.

Ban bầu cử có những nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

1- Kiểm tra, đôn đốc các Tổ bầu cử chấp hành đúng Luật bầu cử;

2- Kiểm tra việc lập và niêm yết danh sách cử tri;

3- Nhận tài liệu và phiếu bầu cử của Hội đồng bầu cử. Phân phối tài liệu và phiếu bầu cử cho các Tổ bầu cử, chậm nhất là bảy ngày trước ngày bầu cử;

4- Kiểm tra, đôn đốc việc bố trí các phòng bỏ phiếu và công việc bầu cử tại các phòng bỏ phiếu;

5- Xét và giải quyết những khiếu nại về công tác của các Tổ bầu cử;

6- Nhận và kiểm tra biên bản kiểm phiếu do các tổ bầu cử gửi đến, làm biên bản ghi kết quả bầu cử trong đơn vị để gửi lên Hội đồng bầu cử.