vanban.org

Điều 82. Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát, xử lý văn bản trái pháp luật — Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật số Không số

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2009 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 27/12/2002 Thay thế: 17/2008/QH12 · 03/06/2008 Sửa đổi, bổ sung: 02/2002/QH11 · 16/12/2002
Quốc hội Ban hành 12/11/1996 Hiệu lực 01/01/1997 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời luật · 4 phiên bản · 29 năm
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 · 17/2008/QH12
Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
27/12/200202/2002/QH11Sửa đổi, bổ sung Đang xem 01/01/1997Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật Không số › Chương 9 › Điều 82
Đọc toàn văn

Điều 82. Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát, xử lý văn bản trái pháp luật

Sửa đổi bởi 02/2002/QH11 · hiệu lực 27/12/2002
Sửa đổi bởi 02/2002/QH11 · hiệu lực 27/12/2002

1. Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực hiện quyền giám sát đối với văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Sửa đổi bởi 02/2002/QH11 · hiệu lực 27/12/2002

2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội hoặc đại biểu Quốc hội huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh và nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó.

Sửa đổi bởi 02/2002/QH11 · hiệu lực 27/12/2002

3. Uỷ ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội hoặc đại biểu Quốc hội bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Sửa đổi bởi 02/2002/QH11 · hiệu lực 27/12/2002

4. Chậm nhất là ba ngày, kể từ ngày ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan ban hành văn bản thuộc thẩm quyền giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm gửi văn bản đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Trong trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội đình chỉ việc thi hành văn bản và yêu cầu cơ quan ban hành văn bản sửa đổi hoặc bãi bỏ theo thẩm quyền. Cơ quan ban hành văn bản phải chấp hành ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.