Điều 30. Giám hộ và trợ tá
1. Vấn đề giám hộ và trợ tá đối với công dân của các bên ký kết thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan tư pháp của bên ký kết mà người cần được giám hộ hoặc trợ tá là công dân, trừ khi Hiệp định này quy định khác. Pháp luật áp dụng là pháp luật của bên ký kết đó.
2. Quan hệ pháp lý giữa người giám hộ hoặc trợ tá và người được giám hộ hoặc được trợ tá được xác định theo pháp luật của bên ký kết có cơ quan về giám hộ và trợ tá đã chỉ định người giám hộ hoặc trợ tá.
3. Nếu thấy cần phải tiến hành những biện pháp về giám hộ và trợ tá để bảo vệ quyền lợi của người được giám hộ hoặc trợ tá có nơi thường trú hoặc tạm trú hoặc có tài sản trên lãnh thổ của bên ký kết kia, thì cơ quan về giám hộ và đỡ đầu của bên ký kết này thông báo ngay cho cơ quan về giám hộ và đỡ đầu có thẩm quyền của bên ký kết kia mà người đó là công dân.
4. Trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan về giám hộ và trợ tá của bên ký kết kia có thể tự quyết định những biện pháp cần thiết, với điều kiện là phải thông báo ngay cho cơ quan về giám hộ và đỡ đầu của bên ký kết mà người được giám hộ hoặc trợ tá là công dân về những biện pháp đã tiến hành. Những biện pháp đó có hiệu lực trong thời gian mà cơ quan thông báo chưa ra quyết định khác.
5. Cơ quan có thẩm quyền về giám hộ và trợ tá có thể chuyển giao việc giám hộ và trợ tá cho cơ quan hữu quan của bên ký kết kia, nếu người được giám hộ hoặc được trợ tá có nơi thường trú hoặc tạm trú, hoặc có tài sản trên lãnh thổ của bên ký kết đó. Việc chuyển giao chỉ có hiệu lực khi cơ quan được yêu cầu chấp thuận đặt giám hộ hoặc trợ tá và thông báo cho cơ quan yêu cầu biết về việc đó.
6. Cơ quan nhận việc giám hộ hoặc trợ tá theo quy định tại khoản 5 Điều này thực hiện việc giám hộ và trợ tá theo pháp luật nước mình. Tuy nhiên, cơ quan này không có quyền quyết định những vấn đề liên quan đến quy chế nhân thân của người được giám hộ hoặc được trợ tá.