Điều 22. Tuyên bố người bị hạn chế năng lực hành vi hoặc mất năng lực hành vi
1. Việc tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi hoặc mất năng lực hành vi thuộc thẩm quyền của Tòa án của bên ký kết mà người đó là công dân và pháp luật áp dụng là pháp luật của bên ký kết đó, trừ những trường hợp được quy định trong các khoản 2 và 3 của Điều này.
2. Nếu xác định có căn cứ để tuyên bố hạn chế năng lực hành vi hoặc mất năng lực hành vi đối với một người là công dân của bên ký kết kia nhưng lại thường trú hoặc tạm trú trên lãnh thổ bên ký kết này, thì Tòa án bên ký kết này thông báo cho Tòa án có thẩm quyền của bên ký kết kia biết. Khi được thông báo như vậy, nếu Tòa án của bên ký kết kia trong thời gian 3 tháng không tiến hành các hành vi tố tụng hoặc không đưa ra ý kiến của mình, thì cơ quan tư pháp nơi người đó thường trú hoặc tạm trú có thể tiến hành thủ tục tuyên bố người đó bị hạn chế năng lực hành vi hoặc mất năng lực hành vi theo quy định pháp luật của nước mình, nếu những căn cứ để tuyên bố như vậy cũng được quy định trong pháp luật của bên ký kết mà người đó là công dân. Quyết định tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi hoặc mất năng lực hành vi được chuyển cho Tòa án tương ứng của bên ký kết kia.
3. Trong trường hợp khẩn cấp, Tòa án của bên ký kết nơi thường trú hoặc tạm trú của một người là công dân của bên ký kết kia cần bị hạn chế năng lực hành vi hoặc tuyên bố mất năng lực hành vi có thể chủ động tiến hành các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đó hoặc tài sản của người đó. Quyết định áp dụng các biện pháp này được chuyển cho Tòa án tương ứng của bên ký kết mà người đó là công dân.
4. Quy định tại các khoản 1, 2 và 3 của Điều này cũng được áp dụng để hủy bỏ quyết định hạn chế năng lực hành vi hoặc để khôi phục năng lực hành vi của công dân.