vanban.org

Quyết định 92/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/05/2025 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Hoàng Thị H.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Hoàng Thị H với Công ty TNHH MTV C (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408104073) bị vô hiệu. Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408104073 là bà Hoàng Thị Thu H1, sinh ngày 14/4/1992; giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam; không phải là bà Hoàng Thị H, sinh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Bà Hoàng Thị Hương yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Hoàng Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 132 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 30 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 92/2025/QĐST-LĐDĩ An, ngày 16 tháng 5 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Hồng.

Thư ký phiên họp: Ông Lê Duy Long - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 92/2025/TLST-VLĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 37/2025/QĐST-LĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Hoàng Thị H, sinh năm: 1984; thường trú: Khu dân cư A, ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ liên hệ: Số I khu phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Hoàng Thị Thu H1, sinh năm 1992: Thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Công ty TNHH MTV C; địa chỉ: Khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp là ông Vũ Ngọc A, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương là người đại diện theo ủy quyền ngày 09/5/2025. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3/ Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Đường T, khu T, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Văn T, sinh năm 1988; thường trú: Số A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (theo văn bản ủy quyền ngày 08/5/2025). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết bà Hoàng Thị H trình bày:

Vào năm 9/2007 đến tháng 8/2012 bà có làm việc tại Công ty S và có tham gia đóng bảo hiểm xã hội số 9107194310. Bà làm vị trí công nhân may, thời gian làm việc từ 07 giờ 30 sáng đến 16 giờ 30 chiều, chưa kể tăng ca. Khoảng 03/2024 bà đi làm thủ tục tại cơ quan Bảo hiểm xã hội thì được biết bị trùng bảo hiểm trong khoảng thời gian từ tháng 07/2008 đến 01/2009. Lý do bị trùng bảo hiểm xã hội: Vào tháng 07/2008 em gái bà tên Hoàng Thị Thu H1 chưa đủ 18 tuổi, nhưng gia đình khó khăn, cần có công việc làm để tăng thu nhập nên bà có cho em Hoàng Thị Thu H1 mượn chứng minh nhân dân của bà số 194246475 do Công an tỉnh Q cấp cho bà để xin việc làm tại Xí nhiệp chế biến gỗ D. Do bà thiếu hiểu biết, nghỉ rằng việc cho em gái bà mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động với Xí nghiệp chế biến gỗ D là không vi phạm gì. Vì vậy, bà nộp đơn yêu cầu Tòa án: Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Hoàng Thị H và Xí nghiệp C1 (nay là Công ty TNHH MTV C) là vô hiệu.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Thu H1 trình bày:

Vào khoảng tháng 07/2008, bà chưa đủ 18 tuổi vì vậy bà mượn thông tin và giấy tờ tùy thân của chị gái Hoàng Thị H để tham gia lao động và ký kết hợp đồng lao động với Xí nghiệp chế biến gỗ D. Bà có tham gia đóng bảo hiểm xã hội với mã số sổ 7408104073, bà làm việc hết tháng 01/2009 thì nghỉ việc. Cùng thời gian này, bà H đang làm việc tại Công ty S. Đến tháng 3/2024, bà H tiến hành làm thủ tục thủ tục tại cơ quan Bảo hiểm xã hội thì được biết bị trùng bảo hiểm. Nay bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án: Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Hoàng Thị H và Xí nghiệp C1 (nay là Công ty TNHH MTV C) vô hiệu thì tôi đồng ý. Thời điểm bà H1 nghỉ việc tại Xí nghiệp chế biến gỗ D đã giải quyết hết chế độ cho bà nên không có yêu cầu gì trong vụ việc này.

- Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV C là ông Vũ Ngọc A trình bày:

Bà Hoàng Thị H có giao kết hợp đồng lao động và được Xí nghiệp C1 (nay là Công ty TNHH MTV C) từ tháng 7/2008 đến tháng 01/2009 thì nghỉ việc. Quá trình bà H làm việc, công ty có tham gia bảo hiểm xã hội, tuy nhiên do thời gian đã lâu nên Công ty TNHH MTV C không còn lưu trữ hồ sơ lao động của bà Hoàng Thị H nên không thể cung cấp cho Toà án. Tất cả người lao động khi xin việc tại Công ty đều phải có hồ sơ xin việc, sơ yếu lý lịch đầy đủ, có xác nhận của chính quyền địa phương, công ty không biết việc bà Hoàng Thị Thu H1 mượn giấy tờ của bà Hoàng Thị H để làm việc tại Công ty, do khi tuyển dụng, số người lao động ứng tuyển tại công ty rất lớn. Nay Hoàng Thị H yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Hoàng Thị H và Công ty TNHH MTV C vô hiệu thì Công ty không có ý kiến gì, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Trường hợp Toà án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu thì Công ty không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, đồng thời không có yêu cầu gì trong vụ án.

- Ông Dương Văn T là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương (viết tắt là BHXH) trình bày:

Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Xí nghiệp chế biến Gỗ Dĩ An cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Hoàng Thị H sinh năm 1984, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7408104073 từ tháng 07/2008 đến tháng 01/2009 đã nhận trợ cấp BHXH một lần. Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Hoàng Thị H và Xí nghiệp C1, Bảo hiểm xã hội đề nghị Tòa án xử theo quy định pháp luật. Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Hoàng Thị H, BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này. Về các yêu cầu khác của Hoàng Thị H, Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương không có ý kiến.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét đơn yêu cầu: Thẩm phán được phân công thụ lý và giải quyết việc lao động đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tại phiên họp đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Yêu cầu của bà Hoàng Thị H là có căn cứ, đề nghị Toà án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về tư cách tố tụng: Theo đơn yêu cầu, người yêu cầu xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Xí nghiệp chế biến gỗ D. Quá trình tố tụng, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp, có cơ sở xác định Xí nghiệp chế biến gỗ D đã sáp nhập vào Xí nghiệp chế biến gỗ Đông Hòa nay là Công ty TNHH Một Thành Viên C, mã số doanh nghiệp C2 (Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH Một Thành Viên C). Do đó, Tòa án xác định lại tư cách của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH Một Thành Viên C.

Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Người yêu cầu bà Hoàng Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Thu H1, người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV C, Bảo hiểm xã hội D có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự

Xem xét yêu cầu của đương sự:

Quá trình tố tụng các đương sự khai thống nhất: Trong thời gian từ tháng 7/2008 đến tháng 01/2009, người lao động tên Hoàng Thị H, sinh năm 1984, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, được Xí nghiệp C1 (nay là Công ty TNHH MTV C) tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7408104073. Quan hệ lao động giữa Xí nghiệp C1 (nay là Công ty TNHH MTV C) và bà H phát sinh từ tháng 7/2008 cho đến tháng 01/2009 hai bên có ký kết hợp đồng lao động. Tuy nhiên, bà H và bà H1 thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Xí nghiệp chế biến gỗ D và thực tế làm việc tại công ty T1 khoảng thời gian từ tháng 7/2008 đến tháng 01/2009 là bà Hoàng Thị H chứ không phải bà Hoàng Thị Thu H1. Do H1 chưa đủ tuổi nên bà H đã cho bà H1 mượn chứng minh nhân dân để đi làm việc. Trình bày của bà H và bà H1 phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội, cụ thể trong thời gian từ tháng 07/2008 đến tháng 01/2009 bà có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty S.

Xét thấy, việc bà Hoàng Thị Thu H1 sử dụng chứng minh nhân dân của bà Hoàng Thị H để giao kết hợp đồng lao động với Xí nghiệp C1 (nay là Công ty TNHH MTV C) là hành vi gian dối. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.

Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội thành phố D đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Hoàng Thị H bị trùng từ tháng 7/2008 đến tháng 01/2009. Do đó, bà H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Xí nghiệp C1 (nay là Công ty TNHH MTV C) với bà Hoàng Thị H vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.

Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu: “... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà H và ý kiến của bà H1 về việc xác định người lao động tại Xí nghiệp C1 (nay là Công ty TNHH MTV C) trong giai đoạn từ tháng 7/2008 đến tháng 01/2009 là bà Hoàng Thị Thu H1, không phải là bà Hoàng Thị H; bà H, bà H1 có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7408104073.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Bà Hoàng Thị H phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, các Điều 149, 361, 367, 370, 371, 372, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ vào Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005.

- Căn cứ các Điều 9, Điều 30 của Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm năm 2002, năm 2006, năm 2007);

- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Hoàng Thị H.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Hoàng Thị H với Công ty TNHH MTV C (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408104073) bị vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408104073 là bà Hoàng Thị Thu H1, sinh ngày 14/4/1992; giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam; không phải là bà Hoàng Thị H, sinh ngày 10/6/1984, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Bà Hoàng Thị H và bà Hoàng Thị Thu H1 có quyền liên hệ với cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7408104073.

2. Về lệ phí: Bà Hoàng Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0008211 ngày 29/4/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ