vanban.org

Quyết định 89/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/05/2025 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Bùi Thị H. Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Bùi Thị H, sinh năm 1983; thường trú: Khu B, ấp C, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ liên hệ: Số G đường B, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (do bà Bùi Thị H1 ký kết) với Công… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Bùi Thị H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 89/2025/QĐST-LĐDĩ An, ngày 14 tháng 5 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: bà Kiều Thị Uyên.

Thư ký phiên họp: Bà Phùng Kim Ngân - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân thành phố D mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 66/2025/VLĐ-ST ngày 11 tháng 04 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số 48/2025/VLĐ-ST ngày 08 tháng 5 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu: Bà Bùi Thị H, sinh năm 1983; thường trú: Khu B, ấp C, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ liên hệ: Số G đường B, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1992; thường trú: Khu B, ấp C, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt

2. Công ty TNHH Đ; địa chỉ: Khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

3. Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: đường T, Trung tâm hành chính D, khu phố N, phường D, thành phố D.

Người đại diện hợp pháp: ông Dương Văn T, địa chỉ: Khu T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 22/04/2025), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu ngày 31/03/2025 và lời khai trong quá trình tố tụng người yêu cầu bà Bùi Thị H trình bày:

Từ năm 2009 đến năm 2013, bà H làm việc tại Công ty cổ phần C, địa chỉ: Lô C, Đường số B, KCN T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Đến nay, bà H tiến hành điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì bên Bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện hồ sơ bảo hiểm của bà bị trùng.

Lý do bị trùng bảo hiểm: là do em gái ruột của bà H tên Bùi Thị H1, sinh năm 1992 sử dụng thông tin của bà để giao kết Hợp đồng lao động với Công ty TNHH Đ từ ngày 01/5/2010 đến 30/5/2010, có tham gia bảo hiểm xã hội với mã số 7410151559. Đồng thời, bà Bùi Thị H giao kết hợp đồng lao động với Công ty cổ phần C từ tháng 11/2009 đến tháng 02/2014.

Do đó, bà H bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm từ ngày 01/5/2010 đến ngày 30/5/2010 tương đương với thời gian bà Bùi Thị Hồng M hồ sơ lao động của bà H.

Vào thời điểm năm 2010, bà Bùi Thị H1 không đủ hồ sơ để ứng tuyển lao động. Bà Bùi Thị H1 là em ruột của bà H nên bà H đã hỗ trợ bà Bùi Thị Hồng M thông tin cá nhân làm hồ sơ lao động. Vì không hiểu biết về pháp luật, chỉ nghĩ đến cách tìm kế sinh nhai nên mới để lại hậu quả pháp lý như ngày hôm nay.

Vì vậy, nay bà H có yêu cầu: Tuyên Hợp đồng lao động giữa bà Bùi Thị H1 và Công ty TNHH Đ vô hiệu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH Đ:

Đã được Tòa án thông báo nội dung khởi kiện và tống đạt Quyết định mở phiên họp, nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu của bà Bùi Thị H, không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết việc lao động.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương do ông Dương Văn T là đại diện hợp pháp trình bày:

Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH Đ cho người lao động thì Công ty TNHH Đ có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Bùi Thị H, sinh năm 1983, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7410151559 từ ngày 01/5/2010 đến ngày 30/5/2010 tại Công ty TNHH Đ, chưa nhận trợ cấp BHXH một lần.

Ngoài ra, bà Bùi Thị H còn có mã số BHXH 7409316075 có quá trình tham gia BHXH, BHYT từ tháng 11/2009 đến tháng 02/2014 tại Công ty cổ phần C.

Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Bùi Thị H và Công ty TNHH Đ, đề nghị Tòa án Nhân dân thành phố Dĩ An căn cứ theo Điều 9, Điều 10, Điều 11 của Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Công ty TNHH Đ có giao kết lại hợp đồng lao động với người mượn hồ sơ hay không?

Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Bùi Thị H, BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này.

Về các yêu cầu khác của bà Bùi Thị H phía Bảo hiểm xã hội Thành phố D, tỉnh Bình Dương không có ý kiến.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị H1 trình bày:

Bà Bùi Thị H1 là em gái ruột của bà Bùi Thị H, vào thời điểm tháng 5/2010, bà H1 chưa đủ 18 tuổi nên không đủ điều kiện để ứng tuyển lao động, do không hiểu biết về mặt pháp luật nên bà H1 đã mượn hồ sơ và thông tin cá nhân của bà H để làm hồ sơ lao động.

Bà H1 đã mượn thông tin cá nhân của bà H và đã làm việc tại Công ty TNHH Đ khoảng từ ngày 01/5/2010 đến ngày 30/5/2010, sau đó bà H1 nghỉ việc tại Công ty TNHH Đ có tham gia bảo hiểm xã hội với số 7410151559.

Vì vậy, bà H đã bị đóng trùng bảo hiểm từ ngày 01/5/2010 đến ngày 30/5/2010.

Nay, đối với yêu cầu của bà Bùi Thị H về việc tuyên Hợp đồng lao động giữa bà Bùi Thị H và Công ty TNHH Đ vô hiệu thì bà H1 đồng ý.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị:

Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: xét thấy, yêu cầu của người yêu cầu là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Bùi Thị H và bà Bùi Thị H1, Bảo hiểm xã Hội thành phố D ó yêu cầu giải quyết vắng mặt, Công ty TNHH Đ, vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự có tên nêu trên.

Về nội dung: Quá trình tố tụng các đương sự khai thống nhất: trong thời gian từ ngày 01/5/2010 đến ngày 30/5/2010, người lao động tên Bùi Thị H, sinh năm 1983, số CCCD xxxxxxxxxxxx, được Công ty TNHH Đ tham gia BHXH, BHYT, BHTN với mã số BHXH 7410151559. Quan hệ lao động giữa Công ty TNHH Đ và bà Bùi Thị H phát sinh từ hợp đồng lao ngày 01/5/2010 đến ngày 30/5/2010. Tuy nhiên, bà Bùi Thị H và bà Bùi Thị H1 thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Đ và thực tế làm việc tại Công ty trong khoảng thời gian từ ngày 01/5/2010 đến ngày 30/5/2010 theo hợp đồng lao động là bà Bùi Thị H1, không phải bà Bùi Thị H, do bà H1 mượn chứng minh nhân dân, giấy tờ của bà H để đi làm việc. Đối với bà H trong thời gian này đang thực tế làm việc tại Công ty cổ phần C có mã số bảo hiểm xã hội là 7409316075. Mục đích mượn giấy tờ là để bà H1 có việc làm do thời gian này bà H1 chưa đủ 18 tuổi. Trình bày của bà H và bà H1 phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội thể hiện trong thời gian từ ngày 01/5/2010 đến 30/5/2010 bà Bùi Thị H có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH Đ và từ tháng 11/2009 đến tháng 02/2014 bà Bùi Thị H có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty cổ phần C. Xét thấy việc bà H1 lấy tên bà H để giao kết hợp đồng lao động là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2006. Do đó việc bà Bùi Thị H yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Bùi Thị H (do bà Bùi Thị H1 mượn tên) với Công ty TNHH Đ là có căn cứ theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005, các đương sự khác cũng thống nhất, không có tranh chấp. Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Bùi Thị H bị trùng từ ngày 01/5/2010 đến ngày 30/5/2010. Do đó, bà Bùi Thị H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty TNHH Đ với bà H (do bà H1 sử dụng thông tin của bà H để ký) là có cơ sở chấp nhận.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

Về lệ phí: bà Bùi Thị H phải chịu theo quy định.

Ý kiến và đề nghị của kiểm sát viên tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 15, 16, 49 của Bộ luật lao động;

Điều 149, 367, 401, 402 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Bùi Thị H.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Bùi Thị H, sinh năm 1983; thường trú: Khu B, ấp C, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ liên hệ: Số G đường B, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (do bà Bùi Thị H1 ký kết) với Công ty TNHH Đ vô hiệu.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Bùi Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số: 0008036 ngày 08/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ