- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của chị Phạm Thị Th.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 48/2024/QĐST-LĐ | Dĩ An, ngày 26 tháng 4 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: bà Nguyễn Thị Thụy.
Thư ký phiên họp: ông Trần Hồng Sơn - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố Dĩ An mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 67/2024/TLST-VLĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 43/2024/QĐST-LĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu: chị Phạm Thị Th, sinh năm 1993; thường trú: thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh T; tạm trú: cầu Sắt Sập TX25, phường T, Quận Y, Thành phố H, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty T; địa chỉ: 5A đường X, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh B.
Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Hữu M, là người đại diện theo ủy quyền, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1995; thường trú: đội 8, thôn T, xã S, huyện N, tỉnh N, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. BHXH D, tỉnh B; địa chỉ: đường T, trung tâm Hành chính D, phường D, thành phố A, tỉnh B.
Người đại diện hợp pháp: ông Dương Văn Tr, sinh năm 1988; địa chỉ: 141/1A khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh B, là người đại diện theo ủy quyền, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Tại đơn yêu cầu chị Phạm Thị Th trình bày:
Từ tháng 5/2012 đến tháng 02/2014 chị Th làm việc tại Công ty TNHH Y và có đóng bảo hiểm xã hội. Chị Th tiến hành làm thủ tục điều chỉnh thông tin bảo hiểm thì bên cơ quan bảo hiểm rà soát và phát hiện bảo hiểm xã hội của chị Th bị trùng.
Lý do bị trùng bảo hiểm xã hội: Do không hiểu biết pháp luật nên trước đây em họ của chị Th là chị Nguyễn Thị P chưa đủ 18 tuổi, không đủ điều kiện để ứng tuyển lao động. Cho nên, chị Th cho chị Ph mượn thông tin cá nhân để làm hồ sơ lao động và giao kết hợp đồng lao động với Công ty T thời gian khoảng từ tháng 5/2012 đến tháng 02/2014, có tham gia bảo hiểm xã hội. Đồng thời thời gian này, chị Th đang làm việc tại Công ty TNHH Y.
Vì vậy, nay chị Th yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động từ tháng 5/2012 đến tháng 02/2014 giữa chị Phạm Thị Th (thực tế chị Nguyễn Thị P làm việc) với Công ty T vô hiệu.
- Ông Nguyễn Hữu M là đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty T trình bày:
Việc chị Nguyễn Thị P mượn hồ sơ của chị Phạm Thị Th để tham gia ký kết hợp đồng lao động với Công ty T thì thời điểm tuyển dụng Công ty không phát hiện được việc người lao động sử dụng hồ sơ giả. Theo hồ sơ lưu trữ trên máy tính thì chị Th ký hợp đồng lao động với Công ty T từ tháng 05/2012 đến tháng 3/2014 thì chị Th nghỉ việc, hiện quan hệ lao động giữa Công ty T với chị Th đã chấm dứt, do chị Th nghỉ việc đã lâu nên hồ sơ lao động của chị Th không còn lưu trữ tại Công ty. Lỗi dẫn đến việc ký kết hợp đồng với chị Th (nhưng chị Ph mới là người thực tế làm việc tại Công ty T) là do chị Th và chị Ph. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho người yêu cầu đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu. Đối với hậu quả của hợp đồng vô hiệu, Công ty T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ông Dương Văn Tr là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan BHXH D, tỉnh Bình Dương trình bày:
Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty T cho người lao động thì Công ty T có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho chị Phạm Thị Th, sinh năm 1993, số CMND xxxxxxxxx (CCCD xxxxxxxxxxxx), với mã số BHXH 7412177106 từ tháng 5/2012 đến tháng 02/2014 chưa nhận trợ cấp BHXH và BHTN. Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của chị Phạm Thị Th, BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này.
Về các yêu cầu khác của chị Phạm Thị Th phía BHXH D, tỉnh Bình Dương không có ý kiến. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Chị Nguyễn Thị P là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Do không hiểu biết pháp luật nên trước đây chị Ph chưa đủ tuổi nên có mượn thông tin cá nhân của chị Phạm Thị Th để giao kết hợp đồng lao động với Công ty T; địa chỉ: 5A đường Xuyên Á, khu phố Bình Đường, phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2012 đến tháng 02/2014 thì chị Th làm việc tại công ty TNHH You Youwings. Đến tháng 3/2014 chị Ph nghỉ việc tại Công ty T. Nay trước yêu cầu của chị Th thì chị Ph hoàn toàn đồng ý.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự:
Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: xét thấy, yêu cầu của người yêu cầu là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc lao động được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:
Về thủ tục tố tụng: chị Phạm Thị Th, chị Nguyễn Thị P, BHXH D, Công ty T có yêu cầu giải quyết vắng mặt, Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
Quá trình tố tụng các đương sự đều khai thống nhất: giữa chị Phạm Thị Th và Công ty T có quan hệ lao động. Trong thời gian từ tháng 5/2012 đến tháng 02/2014, người lao động tên Phạm Thị Th, sinh năm 1993, số CMND xxxxxxxxx (CCCD xxxxxxxxxxxx) được Công ty T tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số BHXH 7412177106. Tuy nhiên, chị Phạm Thị Th và chị Nguyễn Thị P thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty T và thực tế làm việc tại Công ty T trong khoảng thời gian từ tháng 5/2012 đến tháng 02/2014 theo hợp đồng lao động là chị Nguyễn Thị P chứ không phải chị Phạm Thị Th. Do chị Ph mượn chứng minh nhân dân, giấy tờ của chị Th để đi làm việc. Mục đích mượn giấy tờ là để chị Ph có việc làm do thời gian này chị Ph chưa đủ 18 tuổi. Như vậy, việc chị Ph lấy tên chị Th để giao kết hợp đồng lao động là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2006. Do đó, việc chị Phạm Thị Th yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động từ tháng 5/2012 đến tháng 02/2014 giữa chị Phạm Thị Th (do chị Nguyễn Thị P mượn tên) với Công ty T là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005, các đương sự khác cũng thống nhất, không có tranh chấp. Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
Quá trình tố tụng, BHXH D đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của chị Phạm Thị Th bị trùng từ tháng 5/2012 đến tháng 02/2014.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Về lệ phí: chị Phạm Thị Th phải chịu theo quy định.
Ý kiến và đề nghị của kiểm sát viên tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 15, 16, 49 của Bộ luật lao động; Điều 149, 367, 401, 402 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của chị Phạm Thị Th.
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Phạm Thị Th, sinh năm 1993, số CMND xxxxxxxxx (CCCD xxxxxxxxxxxx); thường trú: thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh T; tạm trú: cầu Sắt Sập TX25, phường T, Quận Y, Thành phố H với Công ty T từ tháng 5/2012 đến tháng 02/2014 vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: chị Phạm Thị Th phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ hết tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai Th số 0002770 ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả Thận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND thành phố Dĩ An (01); - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01); - Các đương sự (04); - Lưu :VT, hồ sơ vụ án (02). | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊNHỌP Nguyễn Thị Thụy |