- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Yêu cầu tuyên hợp đồng lao động vô hiệu Kim C"
- Tòa quyết gì? 122, 127 và 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015);
- Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 127 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 46/2026/QĐST-LĐ | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 02 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngân.
Thư ký phiên họp: Bà Thái Thị Yến - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân Khu vực 16 - Thành phố
Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 29/2026/TLST-VLĐ ngày 27 tháng 01 năm 2026 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 37/2026/QĐST-LĐ ngày 06 tháng 02 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Ông Kim Cuôl, sinh năm 1993; địa chỉ thường trú: ấp Kiết
Thắng, xã Lâm Tân, thành phố Cần Thơ; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lim Yee Fancy Plywood VN; địa chỉ: số 11,
đường số 26, khu công nghiệp Sống Thần 2, phường Dĩ An, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
2. Ông Lâm Ca, sinh năm 1997; địa chỉ thường trú: ấp Kiết Thắng, xã Lâm
Tân, thành phố Cần Thơ; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. Bảo hiểm xã hội cơ sở Bình Dương – Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí
Minh; địa chỉ: số 17, đường Lê Duẩn, phường Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
1. Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải
quyết vụ việc, ông Kim Cuôl trình bày:
Tháng 11 năm 2012, ông Kim Cuôl đang làm việc tại Công ty Trách nhiệm
hữu hạn Woodpark Furniture VN và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số: 7411212310. Khi ông Kim Cuôl đi làm thủ tục tại bảo hiểm xã hội thì được biết bảo hiểm xã hội của ông bị trùng trong khoảng thời gian tháng 11 năm 2012. Nguyên nhân bị trùng bảo hiểm xã hội là do vào thời điểm đó, ông Kim Cuôl cho ông Lâm Ca (là người quen của ông Kim Cuôl) mượn chứng minh nhân dân để làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lim Yee Fancy Plywood VN. Quá trình làm việc, ông Ca được Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lim Yee Fancy Plywood VN tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ bảo hiểm là 7412300199. Vì thiếu hiểu biết, nghĩ rằng việc cho ông Ca mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lim Yee Fancy Plywood VN là không vi phạm gì và chỉ mong muốn cho ông Ca có công việc để trang trải cuộc sống nên ông Kim Cuôl mới cho mượn chứng minh nhân dân.
Ông Kim Cuôl yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa
người có tên Kim Cuôl với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lim Yee Fancy Plywood VN vào tháng 11 năm 2012 vô hiệu. Ông Kim Cuôl không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lim
Yee Fancy Plywood VN đã được Tòa án thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập để tham gia phiên họp nhưng người đại diện hợp pháp của Công ty vắng mặt không rõ lý do, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà Thúy cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
3. Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Ca: ông Ca và
ông Kim Cuôl có mối quan hệ quen biết. Khoảng tháng 11 năm 2012, ông Ca không đủ hồ sơ xin việc nên đã mượn chứng minh nhân dân của ông Kim Cuôl để xin vào làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lim Yee Fancy Plywood VN và tham gia đóng bảo hiểm xã hội vào tháng 11 năm 2012 với số sổ bảo hiểm xã hội là 7412300199. Nay ông Ca thống nhất toàn bộ yêu cầu của ông Kim Cuôl về việc đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa người có tên Kim Cuôl với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lim Yee Fancy Plywood VN vào tháng 11 năm 2012 vô hiệu. Ông Ca không có yêu cầu gì khác trong vụ án.
4. Ý kiến của người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Bảo hiểm xã hội (sau đây viết tắt là BHXH) cơ sở Bình Dương:
Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo
hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lim Yee Fancy Plywood VN cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho ông Kim Cuôl, sinh năm 1993, CCCD số xxxxxxxxxxxx (CMND số xxxxxxxxx), với mã số BHXH 7412300199 có quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN tháng 11 năm 2012 tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lim Yee Fancy Plywood VN. Ngoài ra, ông Kim Cuôl còn có mã số 7411212310 tham gia vào tháng 11 năm 2012 tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sei Won Việt Nam. Quá trình tham gia, hai mã số trên trùng quá trình vào tháng 11 năm 2012. BHXH cơ sở Bình Dương không có yêu cầu gì khác trong vụ án và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt BHXH cơ sở Bình Dương trong suốt quá trình tố tụng.
5. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố
Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: xét thấy, yêu cầu của ông Kim Cuôl là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: ông Kim Cuôl và những người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Lâm Ca, Bảo hiểm xã hội cơ sở Bình Dương – Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh có yêu cầu giải quyết vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lim Yee Fancy Plywood VN vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Xem xét yêu cầu của ông Kim Cuôl:
Vào tháng 11 năm 2012, người lao động lấy tên Kim Cuôl giao kết hợp
đồng lao động với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lim Yee Fancy Plywood VN và được Công ty này tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7412300199. Tuy nhiên, ông Kim Cuôl xác nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lim Yee Fancy Plywood VN và thực tế làm việc tại Công ty trong khoảng thời gian nêu trên là ông Lâm Ca (là người quen của ông Kim Cuôl), do ông Kim Cuôl cho ông Ca mượn chứng minh nhân dân.
Xét thấy: lời khai của ông Kim Cuôl và ông Ca phù hợp với xác nhận
của Bảo hiểm xã hội cơ sở Bình Dương vì trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 02 năm 2015, ông Kim Cuôl đang làm việc tại công ty khác và có tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm khác. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lim Yee Fancy Plywood VN vào tháng 11 năm 2012 là ông Ca, không phải là ông Kim Cuôl.
Theo Điều 9 của Bộ luật Lao động năm 1994 và khoản 1 Điều 15 của
Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động được xác lập và tiến hành qua thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, thực hiện đầy đủ những điều đã cam kết.”; “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”;“Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội”.
Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động
tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019 thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”.
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019 về
hợp đồng lao động vô hiệu thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Mặt khác, theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì: “Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc ông Ca mượn hồ sơ cá nhân của ông Kim Cuôl để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ bảo hiểm xã hội số 7412300199 vào tháng 11 năm 2012 tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lim Yee Fancy Plywood VN là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Kim
Cuôl về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa ông Kim Cuôl (do ông Lâm Ca là chủ thể trực tiếp ký kết) với bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lim Yee Fancy Plywood VN theo sổ bảo hiểm xã hội số 7412300199 tháng 11 năm 2012 bị vô hiệu.
[2.5] Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về xem xét
yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu": Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Kim Cuôl và ý kiến của ông Kim Cuôl về việc xác định người lao động làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lim Yee Fancy Plywood VN trong giai đoạn tháng 11 năm 2012 là ông Ca, không phải là ông Kim Cuôl. Ông Kim Cuôl và ông Ca có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7412300199.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ
Chí Minh là phù hợp.
Về lệ phí: ông Kim Cuôl phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ
phí việc lao động.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39;
Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các điều 122, 132, 137 của Bộ luật Dân sự năm 2005 (các điều 117,
122, 127 và 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015);
- Căn cứ Điều 9 của Bộ luật Lao động năm 1994 (các điều 15, 16, 49, 50 và
Điều 51 của Bộ luật Lao động năm 2019);
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Kim Cuôl.
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Kim Cuôl với Công ty Trách nhiệm
hữu hạn Lim Yee Fancy Plywood VN (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7412300199) bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7412300199 không phải
là ông Kim Cuôl, sinh năm 1993, giới tính: nam, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx (chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx). Ông Kim Cuôl và ông Lâm Ca được quyền liên hệ với cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7412300199.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: ông Kim Cuôl phải chịu 300.000
đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu số 0005796 ngày 19/01/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo
trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; - Đương sự; - Lưu: hồ sơ, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Ngân |