vanban.org

Quyết định 42/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 19/04/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị T về việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị T và Công ty TNHH Tân Thành (thời gian làm việc từ tháng 07/2008 đến tháng 03/2010) vô hiệu. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Lê Thị T chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng lệ phí bà Lê Thị T đã nộp theo biên… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Người yêu cầu Nguyễn Phương Ánh V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị T về việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.
  • Căn cứ chính? Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 42/2024/QĐST-LĐDĩ An, ngày 19 tháng 4 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Linh.

Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thuý An - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 59/2024/TLST-VLĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 31/2024/QĐST-LĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc lao động: Bà Lê Thị T, sinh năm 1988; địa chỉ: 159a/434/21 khu phố Đ, phường H, thành phố A, Bình Dương

Người đại diện theo uỷ quyền: Chị Nguyễn Phương Ánh V, sinh năm 2001; địa chỉ: Khu phố A, phường C, thành phố A, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết văng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Công ty TNHH Tân Thành; địa chỉ: Số 26, đường ĐT 743, khu công nghiệp TII, phường A, thành phố A, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

+ Chị Lê Thị C, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn 2 xã T, huyện S, tỉnh Thanh Hóa. Có yêu cầu giải quyết văng mặt.

+ Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Đường T, khu trung tâm hành chính Dĩ An, khu phố Nhị Đồng 2, phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T1, sinh năm 1988; địa chỉ: 141/1A khu phố A, phường H, thành phố A, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết bà Lê Thị T trình bày:

Trước đây, bà Lê Thị T có làm việc và tham gia đóng bảo hiểm xã hội với số sổ bảo hiểm xã hội: 9107259220 tại Công ty Cổ phần đầu tư Thái Bình từ tháng 7/2007 đến tháng 3/2010 và từ tháng 11/2010 đến tháng 3/2011 và hiện nay đã nghỉ việc.

Vào tháng 12/2023, bà T đến Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Thuận An để yêu cầu giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội một lần, nhưng bị từ chối do thời gian trước đây bà T đã cho người khác mượn hồ sơ để đi làm nên bị trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

Lý do trùng bảo hiểm: Năm 2008, bà Lê Thị T có cho em gái là Lê Thị C mượn hồ sơ xin việc để đi làm tại Công ty TNHH Tân Thành (thời gian từ tháng 07/2008 đến tháng 03/2010) và Công ty TNHH Tân Thành đã tham gia Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho bà C (với tên Lê Thị T) trong thời từ tháng 7/2008 đến tháng 3/2010 với mã số BHXH 7408197766.

Thời gian bà T cho em gái bà Lê Thị C mượn hồ sơ để làm việc và tham gia bảo hiểm tại Công ty TNHH Tân Thành trùng khớp với thời gian bà T làm việc và tham gia bảo hiểm tại Công ty Cổ phần đầu tư Thái Bình. Lúc đó, do bà T không hiểu biết về pháp luật nên đã cho người khác mượn hồ sơ đi làm, điều này trái quy định pháp luật dẫn đến hậu quả hồ sơ bảo hiểm xã hội của bà T có thời gian bị đóng trùng nên không thể giải quyết được các thủ tục chính sách bảo hiểm xã hội theo quy định pháp luật.

Vì vậy, bà T yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng lao động đã giao kết bà Lê Thị T với Công ty TNHH Tân Thành vào tháng 7/2008 đến tháng 3/2010 là vô hiệu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị C trình bày:

Tôi đồng ý với toàn bộ yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Lê Thị T. Năm 2008, bà Lê Thị Thủy có cho tôi mượn hồ sơ xin việc để đi làm tại Công ty TNHH Tân Thành (thời gian từ tháng 07/2008 đến tháng 03/2010) và Công ty TNHH Tân Thành đã tham gia Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho tôi (với tên Lê Thị T) trong thời gian từ tháng 7/2008 đến tháng 3/2010 với mã số BHXH 7408197766. Thời gian đó trùng khớp với thời gian bà T làm việc và tham gia bảo hiểm tại Công ty Cổ phần đầu tư Thái Bình. Việc bà T cho tôi mượn hồ sơ để làm việc tại Công ty TNHH Tân Thành làm ảnh hưởng đến bà T không thể giải quyết được các thủ tục chính sách bảo hiểm xã hội theo quy định pháp luật.

- Ông Dương Văn T1 là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (viết tắt là BHXH) trình bày:

Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH Tân Thành cho người lao động thì Công ty TNHH Tân Thành có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho Bà Lê Thị T sinh năm 1988 số CMND xxxxxxxxx (CCCD xxxxxxxxxxxx), với mã số ΒΗΧΗ 7408191766 tại Công ty TNHH Tân Thành từ tháng 07/2008 đến tháng 03/2010 đã nhận trợ cấp BHXH.

Ngoài ra bà Lê Thị T còn có mã số 9107259220 tại Công ty Cổ phần Đầu tư Thái Bình từ tháng 11/2007 đến tháng 03/2010 và từ tháng 11/2010 đến tháng 03/2011.

+ 7411280277 tại Cty Cổ Phần SX - XD - TM An Lộc từ tháng 10/2011 đến tháng 12/2011, tại Cty TNHH Uchiyama Việt Nam từ tháng 03/2012 đến tháng 06/2014.

Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của Bà Lê Thị T, BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này. Về các yêu cầu khác của Bà Lê Thị T BHXH không có ý kiến. Đề nghị Toà xử theo đúng quy định của pháp

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Tân Thành: Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Tân Thành đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý việc lao động, Tòa án đã triệu tập hợp lệ Công ty TNHH Tân Thành để làm việc, lấy lời khai; cung cấp chứng cứ, tham gia phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động nhưng Công ty TNHH Tân Thành vắng mặt không có lý do. Đồng thời, Công ty TNHH Tân Thành cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu của bà Lê Thị Thuỷ.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Lê Thị T là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Tân Thành đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp nhưng vắng mặt không rõ lý do. Người yêu cầu bà Lê Thị T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị C và người đại diện hợp pháp của Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An ông Dương Văn Trắng có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

Quá trình tố tụng người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị C và Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An thống nhất trình bày: Trong thời gian từ tháng 07/2008 đến tháng 03/2010, người lao động tên Lê Thị T, sinh năm 1988 số CMND xxxxxxxxx (CCCD xxxxxxxxxxxx) được Công ty TNHH Tân Thành tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7408191766. Quan hệ lao động giữa Công ty TNHH Tân Thành và bà T phát sinh từ tháng 07/2008 đến tháng 03/2010 hai bên ký kết hợp đồng lao động. Tuy nhiên, bà Lê Thị T và bà Lê Thị C thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Tân Thành và thực tế làm việc tại Công ty TNHH Tân Thành trong khoảng thời gian từ tháng 07/2008 đến tháng 03/2010 theo hợp đồng lao động là bà Lê Thị C chứ không phải bà Lê Thị T do bà C mượn giấy tờ tuỳ thân của bà T để đi làm việc. Đối với bà T trong thời gian này đang thực tế làm việc tại Công ty Cổ phần đầu tư Thái Bình. Mục đích mượn giấy tờ là để bà C có việc làm chứ không nhằm mục đích gì khác. Trình bày của bà C và bà T phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội thể hiện trong thời gian từ tháng 7/2007 đến tháng 3/2010 và từ tháng 11/2010 đến tháng 3/2011 bà Lê Thị T có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty Cổ phần đầu tư Thái Bình. Xét thấy việc bà C lấy tên bà T để giao kết hợp đồng lao động là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2006. Do đó việc bà Lê Thị T yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động giao kết giữa bà T (do bà C mượn tên) với Công ty TNHH Tân Thành là có căn cứ theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005. Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Bà Lê Thị T phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, các Điều 149, 361, 367, 370, 371, 372 và Điều 401, 402 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 127, 132 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2006;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị T về việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị T và Công ty TNHH Tân Thành (thời gian làm việc từ tháng 07/2008 đến tháng 03/2010) vô hiệu.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Lê Thị T chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng lệ phí bà Lê Thị T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004446 ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố, tỉnh Bình Dương.

Người yêu cầu giải quyết việc lao động, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết hợp lệ. Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ