- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Yêu cầu tuyên hợp đồng lao động vô hiệu Nguyễn Thị B"
- Tòa quyết gì? 122, 127 và 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015);
- Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 127 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 41/2026/QĐST-LĐ | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 02 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngân.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Hà Giang - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân Khu vực 16 - Thành phố
Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 24/2026/TLST-VLĐ ngày 20 tháng 01 năm 2026 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 31/2026/QĐST-LĐ ngày 30 tháng 01 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Nguyễn Thị B, sinh năm 1995; địa chỉ thường trú: xóm B,
thôn B, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ liên hệ: A, tổ A, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn S; địa chỉ: khu phố H, phường T, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Jung Young C - Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vương Thanh T; sinh năm 1984; chức danh:
Nhân viên; địa chỉ: khu phố H, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Bà Võ Mộng T1, sinh năm 1990; địa chỉ thường trú: ấp chợ T2, xã T, tỉnh
Cà Mau; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. Bảo hiểm xã hội cơ sở L thuộc Bảo hiểm xã hội Thành phố H; địa chỉ:
đường N, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
1. Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải
quyết vụ việc, bà Nguyễn Thị B trình bày:
Trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 02 năm 2015, bà
Nguyễn Thị B đang làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số: 7413018790 đã được gộp vào sổ 7411134036. Khi bà B đi làm thủ tục tại bảo hiểm xã hội thì được biết bảo hiểm xã hội của bà bị trùng trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2012 đến tháng 7 năm 2014. Nguyên nhân bị trùng bảo hiểm xã hội là do vào thời điểm đó, bà B cho bà Võ Mộng T1 (là người quen của bà B) mượn chứng minh nhân dân để làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn S. Quá trình làm việc, bà T1 được Công ty Trách nhiệm hữu hạn S tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ bảo hiểm là 7412139835. Vì thiếu hiểu biết, nghĩ rằng việc cho bà T1 mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động với Công ty Trách nhiệm hữu hạn S là không vi phạm gì và chỉ mong muốn cho bà T1 có công việc để trang trải cuộc sống nên bà B mới cho mượn chứng minh nhân dân.
Bà B yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa người có
tên Nguyễn Thị B với Công ty Trách nhiệm hữu hạn S trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2012 đến tháng 7 năm 2014 vô hiệu. Bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
2. Tại bản trình bày ý kiến ngày 30/01/2026 người đại diện của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Trách nhiệm hữu hạn S trình bày: Công ty S và bà B có ký hợp đồng lao động và Công ty có đóng bảo hiểm xã hội cho bà B đầy đủ. Khi bà B đến Công ty làm việc thì bà B có cung cấp cho Công ty hồ sơ xin việc gồm sơ yếu lý lịch, giấy khám sức khỏe, chứng minh nhân dân, đơn xin việc làm. Hồ sơ thể hiện tên người xin việc là Nguyễn Thị B. Do đó, toàn bộ hồ sơ tại Công ty liên quan người lao động làm việc cho Công ty đều thể hiện tên Nguyễn Thị B. Vì vậy, hàng tháng Công ty đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động đều có tên Nguyễn Thị B. Bà Võ Mộng T1 có hành vi lừa dối mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động với Công ty là hành vi trái pháp luật và Công ty không thể biết việc làm trái pháp luật của bà T1 cho đến khi Tòa án gửi thông báo thụ lý vụ án. Tại thời điểm đó, do Công ty tuyển dụng nhiều công nhân lao động phục vụ nhu cầu sản xuất nên Công ty không thể biết được người lao động tại Công ty là bà T1. Công ty T3 với yêu cầu khởi kiện của bà B và không có yêu cầu gì khác trong vụ án.
3. Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Mộng T1: bà T1
và bà B có mối quan hệ quen biết. Khoảng tháng 4 năm 2012, bà T1 không đủ hồ sơ xin việc nên đã mượn chứng minh nhân dân của bà B để xin vào làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn S và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 4 năm 2012 đến tháng 7 năm 2014 với số sổ bảo hiểm xã hội là 7412139835. Nay bà T1 thống nhất toàn bộ yêu cầu của bà B về việc đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa người có tên Nguyễn Thị B với Công ty Trách nhiệm hữu hạn S trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2012 đến tháng 7 năm 2014 vô hiệu. Bà T1 không có yêu cầu gì khác trong vụ án.
4. Ý kiến của người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Bảo hiểm xã hội (sau đây viết tắt là BHXH) cơ sở L:
Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo
hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty Trách nhiệm hữu hạn S cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1995, CCCD số xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7412139835 có quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng 4 năm 2012 đến tháng 7 năm 2014 tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn S. Ngoài ra, bà Nguyễn Thị B còn có mã số 7413018790 đã được gộp vào sổ 7411134036 tham gia từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 02 năm 2015 tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1. BHXH cơ sở L không có yêu cầu gì khác trong vụ án và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt BHXH cơ sở Lái Thiêu trong suốt quá trình tố tụng.
5. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố
Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: xét thấy, yêu cầu của bà Nguyễn Thị B là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: người đại diện hợp pháp của người yêu cầu bà Nguyễn
Thị B và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Xem xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị B:
Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2012 đến tháng 7 năm 2014,
người lao động tên Nguyễn Thị B giao kết hợp đồng lao động với Công ty Trách nhiệm hữu hạn S và được Công ty này tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7412139835. Tuy nhiên, bà B xác nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty Trách nhiệm hữu hạn S và thực tế làm việc tại Công ty trong khoảng thời gian nêu trên là bà Võ Mộng T1 (là người quen của bà B), do bà B cho bà T1 mượn chứng minh nhân dân.
Xét thấy: lời khai của bà B và bà T1 phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm
xã hội cơ sở Lái Thiêu vì trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 02 năm 2015, bà B đang làm việc tại công ty khác và có tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm khác. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn S trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2012 đến tháng 7 năm 2014 là bà T1, không phải là bà B.
Theo Điều 9 của Bộ luật Lao động năm 1994 và khoản 1 Điều 15 của
Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động được xác lập và tiến hành qua thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, thực hiện đầy đủ những điều đã cam kết.”; “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”;“Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội”.
Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động
tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019 thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”.
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019 về
hợp đồng lao động vô hiệu thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Mặt khác, theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L1 thì: “Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà T1 mượn hồ sơ cá nhân của bà B để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ bảo hiểm xã hội số 7412139835 từ tháng 4 năm 2012 đến tháng 7 năm 2014 tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn S là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà B về việc
yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa bà Nguyễn Thị B (do bà Võ Mộng T1 là chủ thể trực tiếp ký kết) với bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn S theo sổ bảo hiểm xã hội số 7412139835 từ tháng 4 năm 2012 đến tháng 7 năm 2014 bị vô hiệu.
[2.5] Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về xem xét
yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu": Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà B và ý kiến của bà B về việc xác định người lao động làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn S trong giai đoạn từ tháng 4 năm 2012 đến tháng 7 năm 2014 là bà T1, không phải là bà Nguyễn Thị B. Bà B và bà T1 có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7412139835.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ
Chí Minh là phù hợp.
Về lệ phí: bà Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
lệ phí việc lao động.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39;
Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các điều 122, 132, 137 của Bộ luật Dân sự năm 2005 (các điều 117,
122, 127 và 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015);
- Căn cứ Điều 9 của Bộ luật Lao động năm 1994 (các điều 15, 16, 49, 50 và
Điều 51 của Bộ luật Lao động năm 2019);
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị B.
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị B với Công ty Trách nhiệm
hữu hạn S (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7412139835) bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7412139835 không phải
là bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1995, giới tính: nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Bà Nguyễn Thị B và bà Võ Mộng T1 được quyền liên hệ với C1 có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7412139835.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Nguyễn Thị B phải chịu 300.000
đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu số 0004261 ngày 14/01/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo
trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; - Đương sự; - Lưu: hồ sơ, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Ngân |