vanban.org

Quyết định 34/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/04/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Lê Thị T.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị T, sinh năm 1989, số CMND xxxxxxxxx; thường trú: xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; tạm trú: số C đường A, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương với Công ty TNHH C1 từ tháng 9/2008 đến tháng 11/2010 vô hiệu. Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Lê Thị T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 34/2024/QĐST-LĐDĩ An, ngày 16 tháng 4 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: bà Nguyễn Thị Thụy.

Thư ký phiên họp: ông Trần Hồng Sơn - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố D mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 50/2024/TLST-VLĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 09/2024/QĐST-LĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu: bà Lê Thị T, sinh năm 1989; thường trú: xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; tạm trú: số C đường A, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1992; thường trú: xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; tạm trú: số B đường A, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Công ty TNHH C1; trụ sở: lô A, đường số B, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: bà Ngô Thị C, sinh năm 1979; địa chỉ: 3 L, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 19/01/2024), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: đường T, trung tâm Hành chính D, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: ông Dương Văn T1, sinh năm 1988; địa chỉ: A khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 09/4/2024), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

- Tại đơn yêu cầu bà Lê Thị T trình bày: từ tháng 9/2008 đến tháng 11/2010, bà T làm việc tại Công ty TNHH E và có đóng bảo hiểm xã hội. Nay bà T liên hệ Bảo hiểm xã hội nộp hồ sơ điều chỉnh sổ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện thông tin của bà T bị trùng.

Lý do bị trùng bảo hiểm: do trước đây bà Nguyễn Thị N chưa đủ tuổi để ký kết hợp đồng lao động và các bên chưa hiểu rõ thông tin về vấn đề đóng Bảo hiểm xã hội nên bà T có cho bà Nguyễn Thị N mượn giấy tờ liên quan đến thông tin cá nhân của bà T để giao kết hợp đồng lao động tại Công ty TNHH C1; trụ sở: lô A, đường số B, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Thời gian bà N (sử dụng thông tin của bà T) giao kết Hợp đồng lao động với Công ty TNHH C1 thì từ tháng 9/2008 đến tháng 11/2010, bà T đang giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH E.

Do đó, bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị T (do bà Nguyễn Thị N thực tế làm việc) với Công ty TNHH C1 từ tháng 9/2008 đến tháng 11/2010 là vô hiệu.

- Bà Ngô Thị C là đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH C1 trình bày: việc bà N mượn hồ sơ của bà T để tham gia ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH C1 thì thời điểm tuyển dụng Công ty không phát hiện được việc người lao động sử dụng hồ sơ giả vì Công ty rất đông công nhân. Theo hồ sơ lưu trữ thì bà T vào Công ty làm việc từ ngày 29/7/2008 đến tháng 12/2010 thì bà T nghỉ việc, hiện quan hệ lao động giữa Công ty với bà T đã chấm dứt, do bà T nghỉ việc đã lâu nên hồ sơ lao động của bà T không còn lưu trữ tại Công ty. Lỗi dẫn đến việc ký kết hợp đồng với bà T (nhưng bà N mới là người thực tế làm việc tại Công ty) là do bà T và bà N. Yêu cầu Tòa án giải quyết không để ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của Công ty.

- Ông Dương Văn T1 là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương trình bày: qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH C1 cho người lao động thì Công ty TNHH C1 có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Lê Thị T, sinh năm 1989, số CMND xxxxxxxxx, với mã số BHXH 7408250421 từ tháng 9/2008 đến tháng 11/2010 đã nhận trợ cấp BHXH và BHTN. Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Lê Thị T, BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này.

Về các yêu cầu khác của bà Lê Thị T phía Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương không có ý kiến.

- Bà Nguyễn Thị N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: do không hiểu biết pháp luật nên trước đây bà N chưa đủ tuổi nên bà N có mượn thông tin cá nhân của bà Lê Thị T để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH C1; trụ sở: lô A, đường số B, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2008 đến tháng 11/2010 bà N làm việc tại Công ty TNHH C1. Bà N đã nghỉ việc và hiện không còn làm việc tại Công ty TNHH C1. Nay trước yêu cầu của bà T thì bà N hoàn toàn đồng ý.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị:

Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: xét thấy, yêu cầu của người yêu cầu là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc lao động được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về thủ tục tố tụng: bà Lê Thị T, bà Nguyễn Thị N, Bảo hiểm xã Hội thành phố D, Công ty TNHH C1 có yêu cầu giải quyết vắng mặt, Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

Quá trình tố tụng các đương sự đều khai thống nhất: giữa bà Lê Thị T và Công ty TNHH C1 có quan hệ lao động. Trong thời gian từ tháng 9/2008 đến tháng 11/2010, bà Lê Thị T, sinh năm 1989, số CMND xxxxxxxxx được Công ty TNHH C1, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7408250421. Tuy nhiên, bà Lê Thị T và bà Nguyễn Thị N đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH C1 và thực tế làm việc Công ty TNHH C1 trong khoảng thời gian từ tháng 9/2008 đến tháng 11/2010 theo hợp đồng lao động là bà Nguyễn Thị N chứ không phải bà Lê Thị T. Do bà N mượn chứng minh nhân dân, giấy tờ của bà T để đi làm việc. Mục đích mượn giấy tờ là để bà N có việc làm do thời gian này bà N chưa đủ 18 tuổi. Như vậy, việc bà N lấy thông tin cá nhân của bà T để giao kết hợp đồng lao động là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2006. Do đó, bà Lê Thị T yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động từ tháng 9/2008 đến tháng 11/2010 giữa bà Lê Thị T với Công ty TNHH C1 là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005, các đương sự khác cũng thống nhất, không có tranh chấp. Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Quá trình tố tụng, Bảo hiểm xã hội thành phố D đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Lê Thị T bị trùng từ tháng 9/2008 đến tháng 11/2010.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

Về lệ phí: bà Lê Thị T phải chịu theo quy định.

Ý kiến và đề nghị của kiểm sát viên tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 15, 16, 49 của Bộ luật lao động; Điều 149, 367, 401, 402 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Lê Thị T.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị T, sinh năm 1989, số CMND xxxxxxxxx; thường trú: xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; tạm trú: số C đường A, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương với Công ty TNHH C1 từ tháng 9/2008 đến tháng 11/2010 vô hiệu.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Lê Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ hết tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0004577 ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ