vanban.org

Quyết định 305/2026/QĐST-VLĐ — Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị T.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị T với Công ty TNHH M (Việt Nam) trong giai đoạn từ tháng 05/2008 đến tháng 01/2010 (Theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408122462) bị vô hiệu. Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408122462 trong khoảng thời gian từ tháng 05/2008 đến tháng 01/2010… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể — án lao động — "Bà Nguyễn Thị Thúy yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 145 Bộ luật Dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 305/2026/QĐST-VLĐ
TP. Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 8 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Hồng.

Thư ký phiên họp: Bà Thái Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16

- Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 387/2026/TLST-VLĐ ngày 06 tháng 8 năm 2026 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 292/2026/QĐST-VLĐ ngày 14 tháng 8 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1988; thường trú: Xóm Đ, xã Q, tỉnh Nghệ An; địa chỉ liên hệ: 26 đường T, khu phố N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Hằng N, sinh năm 1999, hoặc bà Dương Thị Hồng N1, sinh năm 1997 hoặc ông Lê Trung P, sinh năm 2003; cùng địa chỉ: Số B đường T, khu phố N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, (bà N có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bà N1, ông P vắng mặt);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Công ty TNHH M (Việt Nam); địa chỉ: Lô K đường số F, KCN Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Roshan Dilruk A, sinh năm 1974; Chức vụ: Giám đốc vùng; địa chỉ: Lô K đường số F, Khu công nghiệp Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

- Bà Phan Thị D, sinh năm 1995; địa chỉ: Xóm H, xã V, tỉnh Nghệ An, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt);

- Bảo hiểm xã hội cơ sở Bình Dương - Thành phố H; địa chỉ: A L, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt);

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết, người yêu cầu bà Nguyễn Thị T và người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Hằng N trình bày:

Tháng 5/2008, bà Nguyễn Thị T ký hợp đồng và tham gia làm việc tại Công ty TNHH I, địa chỉ: Lô H, đường số F, khu công nghiệp Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh và được Công ty T theo mã số sổ 7408090847. Bà T làm việc tại Công ty TNHH I từ tháng 5/2008 đến tháng 02/2010 thì nghĩ việc. Sau đó bà làm việc ở nhiều nơi và tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo mã số trên. Nay bà Nguyễn Thị T tiến hành thủ tục gộp sổ bảo hiểm xã hội thì Cơ quan Bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện hồ sơ bảo hiểm xã hội của bà T bị trùng trong khoảng thời gian từ tháng 05/2008 đến tháng 01/2010 với mã số bảo hiểm xã hội 7408122462 nên đã từ chối giải quyết hồ sơ của bà T. Nguyên nhân bị trùng là do quá trình tham gia bảo hiểm xã hội bà chưa hiểu rõ quy định của pháp luật nên từ tháng 05/2008 đến tháng 01/2010 bà T có cho em gái của bà T là bà Phan Thị D mượn giấy tờ cá nhân của bà T để đi làm. Sau đó, bà Phan Thị D đã dùng thông tin cá nhân của bà T để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH M (Việt Nam).

Do đó, để đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên bà Nguyễn Thị T (do bà Phan Thị D là người ký kết) với Công ty TNHH M (Việt Nam) là vô hiệu. Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị D trình bày: Bà D thống nhất trình bày của bà Nguyễn Thị T. Để đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm của bà Nguyễn Thị T, bà Phan Thị D đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động theo đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị T. Bà Phan Thị D không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

- Tại Công văn của Bảo hiểm xã hội cơ sở B trình bày: Bà Nguyễn Thị T, sinh ngày 22/7/1988, CMND: xxxxxxxxx, CCCD: xxxxxxxxxxxx, sổ 7408122462 có quá trình tham gia từ tháng 5/2008 đến tháng 01/2010 tại Công ty TNHH M (Việt Nam). Sổ đã được xác nhận bảo lưu, đã hưởng trợ cấp 1 lần, chưa hưởng thất nghiệp. Theo quy định hiện hành về đăng ký tham gia BHXH, BHYT, BHTN cơ quan BHXH không lưu giữ hợp đồng lao động và các giấy tờ tùy thân của người lao động mà do người lao động quản lý, lưu giữ. Trường hợp Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu đề ngị Tòa án tuyên buộc người mượn hồ sơ tư pháp đi làm việc và tham gia BHXH được điều chỉnh thông tin nhân thân đúng của người lao động.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH M (Việt Nam) trình bày: Công ty TNHH M đã ký hợp đồng lao động với bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1988, số sổ BHXH: 7408090847 từ tháng 05/2008 đến tháng 02/2010. Do người lao động đã nghĩ việc rất lâu (hơn 18 năm trước) và người lao động hiện đang không thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh nên Công ty không có căn cứ để kiểm tra lại tính trung thực của hồ sơ mà người lao động đã cung cấp cho Công ty năm 2008. Tuy nhiên, nhằm tạo điều kiện hỗ trợ giải quyết chế độ cho người lao động, Công ty đồng ý nguyện vọng của bà T về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên Nguyễn Thị T và người sử dụng lao động là Công ty TNHH M (Việt Nam) trong khoảng thời gian từ tháng 05/2008 đến tháng 02/2010 là vô hiệu. Sau khi Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, Công ty không có bất kỳ trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng lao động đã ký kết với bà Nguyễn Thị T trong khoảng thời gian trên.

- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T là bà Nguyễn Thị Hằng N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị D, người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH M (Việt Nam) và B cơ sở B đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự là phù hợp. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Nguyễn Thị T là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T là bà Nguyễn Thị Hằng N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị D, người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH M (Việt Nam) và B cơ sở B có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu của đương sự:

Xem xét yêu cầu của đương sự: Trong thời gian từ tháng 05/2008 đến tháng 01/2010, người lao động tên Nguyễn Thị T, sinh năm 1988, CMND: xxxxxxxxx, CCCD: xxxxxxxxxxxx, sổ 7408122462, được Công ty TNHH M (Việt Nam) tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ Bảo hiểm xã hội (viết tắt là BHXH) 7408122462. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Thúy Nguyễn Thị Hồng C và bà Phan Thị D đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH M (Việt Nam) và thực tế làm việc tại Công ty trong khoảng thời gian tháng 05/2008 đến tháng 01/2010 là bà Phan Thị D (do bà Nguyễn Thị T cho bà Phan Thị D mượn chứng minh nhân dân để xin việc làm).

Xét thấy, lời khai của bà Nguyễn Thị T và bà Phan Thị D phù hợp. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ 05/2008 đến tháng 02/2010, bà Nguyễn Thị T tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ Bảo hiểm xã hội (viết tắt là BHXH) 7408090847 tại Công ty TNHH I. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH M (Việt Nam) trong khoảng thời gian từ tháng 05/2008 đến tháng 01/2010 là bà Phan Thị D, không phải là bà Nguyễn Thị T.

Theo quy định tại Điều 9, Điều 30 của Bộ luật Lao động năm 1994, khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc Phan Thị D mượn hồ sơ cá nhân của bà Nguyễn Thị T để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 7408122462 từ tháng 05/2008 đến tháng 01/2010 tại Công ty TNHH M (Việt Nam) là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị T với Công ty TNHH M (Việt Nam) bị vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu: “... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH M (Việt Nam) trong giai đoạn từ tháng 05/2008 đến tháng 01/2010 là bà Phan Thị D, không phải là bà Nguyễn Thị T. Bà Phan Thị D và bà Nguyễn Thị T có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7408122462 trong khoảng thời gian từ tháng 05/2008 đến tháng 01/2010.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33, Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ vào Điều 145 Bộ luật Dân sự năm 1995.

- Căn cứ các Điều 9, Điều 30 của Bộ luật Lao động năm 1994;

- Căn cứ khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, Điều 50, Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Lao động năm 2012;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16, các Điều 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị T.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị T với Công ty TNHH M (Việt Nam) trong giai đoạn từ tháng 05/2008 đến tháng 01/2010 (Theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408122462) bị vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408122462 trong khoảng thời gian từ tháng 05/2008 đến tháng 01/2010 do Công ty TNHH M (Việt Nam) tham gia không phải là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1988; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx. Bà Phan Thị D và bà Nguyễn Thị T được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7408122462.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0007561 ngày 05/8/2026 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 36, 71 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ