- Tranh chấp gì? "Xử lý hành chính"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà, địa chỉ: thị trấn Gia Khánh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đối với anh Phạm Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 102 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 30/QĐ-TA | Thanh Hà, ngày 27 tháng 7 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ – TỈNH HẢI DƯƠNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hoài
2. Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Thu
Ngày 27 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 32/2018/QĐ - TA ngày 23-7-2018 đối với:
Họ và tên: Phạm Văn Đ, Giới tính: Nam;
Sinh năm 1968.
CMND: Không có.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 3/10.
Nguyên quán: Thôn V, xã L, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
ĐKHKTT: Thôn V, xã L, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
Chỗ ở: Thôn V, xã L, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Tiền án: Không;
Tiền sự:
1. Ngày 05/01/2018, Trưởng Công an xã L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ – XPHC đối với anh Phạm Văn Đ về hành vi xúc phạm danh dự người khác gây rối trật tự công cộng. Hình thức phạt tiền 200.000đ, đến nay anh Phạm Văn Đ chưa nộp phạt.
2. Ngày 19/01/2018, Trưởng Công an xã L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ – XPHC đối với anh Phạm Văn Đ về hành vi xúc phạm danh dự người khác gây rối trật tự công cộng. Hình thức phạt tiền 200.000đ, đến nay anh Phạm Văn Đ chưa nộp phạt.
3. Ngày 12/02/2018, Chủ tịch UBND xã L ra quyết định số 05/QĐ - UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với anh Phạm Văn Đ, thời hạn 06 tháng kể từ ngày 23/02/2018 đến ngày 23/8/2018.
4. Ngày 27/03/2018, Trưởng Công an xã L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14/QĐ – XPHC đối với anh Phạm Văn Đ về hành vi xúc phạm danh dự người khác gây rối trật tự công cộng. Hình thức phạt tiền 300.000đ, đến nay anh Phạm Văn Đ chưa nộp phạt.
5. Ngày 24/04/2018, Trưởng Công an xã L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17/QĐ – XPHC đối với anh Phạm Văn Đ về hành vi xúc phạm danh dự người khác gây rối trật tự công cộng. Hình thức phạt tiền 300.000đ, đến nay anh Phạm Văn Đ chưa nộp phạt.
6. Ngày 27/5/2018, anh Phạm Văn Đ có hành vi đôi co, chửi bới ông Bùi Đức T. Hành vi của anh Đ chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an xã L lập biên bản vi phạm hành chính và đề nghị Chủ tịch UBND xã L đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với anh Phạm Văn Đ. Ngày 04/6/2018, Chủ tịch UBND xã L ra quyết định số 25/QĐ-UBND chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với anh Phạm Văn Đ.
Nhân thân: Bản án số 142 ngày 20/7/1993 Tòa án nhân dân tỉnh Hải Hưng xử phạt 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Ngày 24/6/1999 bị Công an huyện Thanh Hà xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”
- Ngày 09/9/2008 bị Công an huyện Thanh Hà xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
Con ông: Nguyễn Văn C, sinh năm 1930 và bà: Nguyễn Thị H (đã chết).
Anh Phạm Văn Đ có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Nam Long – Cán bộ Đội xây dựng phong trào và phụ trách xã về an ninh trật tự, Công an huyện Thanh Hà.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà: Bà Phạm Thị Duyên – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Trong thời gian từ ngày 02/01/2018 đến ngày 03/02/2018, anh Phạm Văn Đ đã ba lần đến nhà ông Bùi Đức T (là bố vợ anh Đ), sinh năm 1940 ở thôn X, xã L, huyện Thanh Hà chửi bới, xúc phạm danh dự, gây rối trật tự công cộng tại gia đình ông T. Hành vi của anh Đ đã bị Trưởng Công an xã L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền vào giáo dục tại xã thời gian 06 tháng kể từ ngày 23/02/2018 đến ngày 23/8/2018.
Trong thời gian giáo dục tại xã L, anh Đ không tiến bộ mà tiếp tục đến nhà ông T chửi bới, xúc phạm danh dự chị Bùi Thị H (là vợ anh Đ) cũng như ông T vào các ngày 23/3/2018 và ngày 20/4/2018. Hành vi của anh Đ đã bị Trưởng Công an xã L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền nhưng anh Đ không chấp hành nộp phạt. Ngày 27-5-2018, anh Đ tiếp tục có hành vi chửi bới xúc phạm gia đình ông T nên Chủ tịch UBND xã L ra quyết định số 25/QĐ-UBND ngày 04-6-2018 chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với anh Phạm Văn Đ. Ngày 26-6-2018, Trưởng Công an xã L có công văn số 06/VB-CA chuyển toàn bộ hồ sơ đến Trưởng phòng tư pháp huyện Thanh Hà và đề nghị đưa anh Phạm Văn Đ vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Ngày 17-7-2018, Trưởng phòng tư pháp huyện Thanh Hà ra thông báo số 28/TB-TP kết luận hồ sơ đã đảm bảo tính pháp lý và chuyển hồ sơ đến Trưởng Công an huyện Thanh Hà. Ngày 28-7-2018, Công an huyện Thanh Hà chuyển hồ sơ và đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà áp dụng biện pháp hành chính đưa anh Phạm Văn Đ vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 12 tháng (kể từ ngày chấp hành quyết định), nơi chấp hành cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà, thị trấn Gia Khánh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tại phiên họp:
Đại diện Công an huyện Thanh Hà vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Toà án xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với anh Phạm Văn Đ.
Anh Phạm Văn Đ thừa nhận nhiều lần thực hiện hành vi như nội dung nêu trên là đúng nhưng đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà tạo điều kiện cho anh được tự sửa chữa khuyết điểm tại gia đình.
Đại diện VKSND huyện Thanh Hà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với anh Phạm Văn Đ đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương chấp nhận đề nghị của Trưởng công an huyện Thanh Hà đưa anh Đ vào cơ sở giáo dục bắt buộc tại cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà, thị trấn Gia Khánh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc với thời hạn 12 tháng.
XÉT THẤY:
Về phần thủ tục: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với anh Phạm Văn Đ được lập theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 101, Điều 102 Luật xử lý vi phạm hành chính. Anh Phạm Văn Đ có hộ khẩu và cư trú rõ ràng tại thôn V, xã L, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; Cơ quan đề nghị là Công an huyện Thanh Hà có trụ sở tại Thị trấn Thanh Hà, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Do vậy, hồ sơ thuộc thẩm quyền xem xét giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
Về nội dung: Từ ngày 02/01/2018 đến ngày 03/02/2018 anh Phạm Văn Đ đã nhiều lần vi phạm pháp luật, bị Trưởng Công an xã L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền và giáo dục tại xã. Cụ thể: Ngày 02/01/2018, anh Đ có hành vi chửi bới, xúc phạm, gây rối trật tự công cộng nhà ông Bùi Đức T. Sau đó vào những ngày 17/01/2018, 03/02/2018, 23/3/2018, 20/4/2018, 27/5/2018 anh Đ vẫn tiếp tục đến nhà ông T chửi bới, xúc phạm, gây rối trật tự công cộng. Như vậy, trong thời gian chưa đầy 06 tháng, anh Phạm Văn Đ đã thực hiện nhiều hành vi chửi bới, xúc phạm, gây rối trật tự công cộng (Đều chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự). Do vậy, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo đề nghị của Trưởng Công an huyện Thanh Hà là có căn cứ và phù hợp với quy định tại các Điều 93, 94 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 05/2015/NQ – HĐTP ngày 24 tháng 12 năm 2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao về hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, đảm bảo tính chất răn đe, giáo dục anh Đ thành người công dân có ích cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: anh Phạm Văn Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, anh Phạm Văn Đ đã thành khẩn khai báo, nhận sai và hứa sửa chữa sai phạm nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 9; Điều 93, khoản 1 Điều 94, Điều 101; Điều 102, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 05/2015/NQ – HĐTP ngày 24 tháng 12 năm 2015 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Khoản 1 Điều 3, Điều 7, Điều 22, Điều 23, Điều 24; Điều 30, Điều 31 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà, địa chỉ: thị trấn Gia Khánh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đối với anh Phạm Văn Đ.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, Công an huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương có quyền kháng nghị. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, anh Phạm Văn Đ có quyền khiếu nại đối với quyết định này.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
| Nơi nhận: - UBND xã L; - Công an huyện Thanh Hà; - VKSND huyện Thanh Hà; - Cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. C¸c héi thÈm nh©n d©n toµ ¸n nh©n d©n thµnh phè h¶i d−¬ng TØnh h¶i D−¬ng ----------------- Biªn b¶n nghÞ ¸n Toµ ¸n nh©n d©n thµnh phè h¶i d−¬ng Víi Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Bµ Ph¹m Thóy H»ng. Héi thÈm nh©n d©n: Ông Nguyễn Công Hoan vµ «ng Lª V¨n C− thÈm ®1 tiÕn hµnh nghÞ ¸n vô ¸n H«n nh©n vµ gia ®×nh, gi÷a nguyªn ®¬n chÞ Lª ThÞ Th−¬ng vµ bÞ ®¬n anh Cao Duy H−ng. xem xÐt ®Çy ®ñ toµn diÖn c¸c chøng cø, ý kiÕn cña c¸c ®−¬ng sù, ®¹i diÖn viÖn kiÓm s¸t. ®Ò sau: Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 8 Điều 27 - Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án. Thương và anh Cao Duy Hưng. 15/9/2011 cho anh Cao Duy Hưng; giao cháu Cao Nguyên Phúc, sinh ngày 04/01/2014 cho chị Lê Thị Thương trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ tháng 01 năm 2017 đến khi các con chung tròn 18 tuổi. nhau và đều được quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm nom con chung để gây cản trở việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của nhau. ly hôn. Đối trừ khoản tiền tạm ứng án phí mà chị Thương đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AB/2014/006380 ngày 06/10/2016 của Chi cục thi hành án dân sự TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương, chị Thương đã thi hành xong nghĩa vụ án phí. trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. héi ®ång xÐt xö cïng ®äc l¹i nhÊt trÝ ký tªn. C¸c héi thÈm nh©n d©n | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Thu Hoài ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ. Ph¹m Thóy H»ng Céng Hoµ x(cid:25) héi chñ nghÜa viÖt nam §éc lËp - Tù do - H¹nh phóc ---------------------------- TP H¶i D−¬ng, ngµy 30 th¸ng 12 n¨m 2016 Vµo håi …. giê ….. phót ngµy 30 th¸ng 12 n¨m 2016, Héi ®ång xÐt xö s¬ C¨n cø vµo c¸c chøng cø, tµi liÖu ®1 ®−îc thÈm tra t¹i phiªn toµ, trªn c¬ së Héi ®ång xÐt xö th¶o luËn vµ thèng nhÊt 100%, biÓu quyÕt 3/3 nh÷ng vÊn Áp dụng: Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Khoản 4 1. Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị 2. Về quan hệ con chung: Khi ly hôn, giao cháu Cao Thị Tố Như, sinh ngày Chị Thương, anh Hưng không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho 3. Về án phí: Chị Lê Thị Thương phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm 4. Quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án Biªn b¶n lËp xong vµo håi …. giê …. phót cïng ngµy. C¸c thµnh viªn ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ. Ph¹m Thóy H»ng |