vanban.org

Quyết định 251/2025/QĐST-VLĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

2002, 2006 và 2007; luật Lao động năm 2012; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Người yêu cầu: bà Lê Thị P"
  • Tòa quyết gì? 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 251/2025/QĐST-VLĐ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 11 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: bà Đào Thị Thu Vân.

Thư ký phiên họp: ông Trần Hồng Sơn, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên họp: bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 16 - Thành phố Hồ

Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động thụ lý số: 337/2025/TLST-VLĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 208/2025/QĐMPH-VLĐ ngày 18 tháng 10 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: bà Lê Thị P, sinh năm 1978; thường trú: Ấp B, xã U, tỉnh Cà

Mau; tạm trú: Tổ B, khu phố E, phường V, Thành Phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị H, sinh năm 1973; thường trú: ấp C, xã U, tỉnh Cà Mau. Có yêu cầu

giải quyết vắng mặt;

2. Công ty TNHH E (V); địa chỉ: số B, đường số G, K, phường B, Thành phố Hồ

Chí Minh; Vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội cơ sở L, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Đường N, phường

L, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Thái S; chức vụ: Phó Giám đốc. Có yêu

cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết

người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị P trình bày:

Trong khoảng từ tháng 7/2011 đến tháng 01/2014, bà Lê Thị P làm việc tại Công

ty TNHH F và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số: 7411211922; Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2020 đến tháng 3/2024, bà bà Lê Thị P làm việc tại Công ty TNHH U và đóng bảo hiểm xã hội số 9622751826. Đến khi bà P đến Bảo hiểm xã hội liên hệ để làm thủ tục tại Bảo hiểm xã hội thì được biết bảo hiểm xã hội của bà bị trùng. Nguyên nhân bị trùng bảo hiểm xã hội là do vào tháng 9/2010 bà P cho chị gái bà Lê Thị H mượn giấy tờ tuỳ nhân để làm việc tại Công ty TNHH E (V) khoảng từ tháng 09/2010 đến tháng 5/2011, có đóng BHXH số: 7410276183. Vì thiếu hiểu biết, nghĩ rằng việc cho mượn giấy tờ tuỳ thân để ký kết hợp đồng lao động với Công ty là không vi phạm gì và chỉ mong muốn cho bà H có công việc để trang trải cuộc sống. Vì vậy, bà P yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị P và Công ty TNHH E (V) là vô hiệu. Bà Lê Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị H trình bày: Khoảng năm

2010, bà có mượn chứng minh nhân dân của bà P để xin vào làm việc tại Công ty TNHH E (V), có đóng BHXH số: 7410276183 từ tháng 09/2010 đến tháng 5/2011. Nay bà H thống nhất toàn bộ yêu cầu của bà P và đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị P với Công ty TNHH E (V) vô hiệu. Bà cũng không yêu cầu gì liên quan đến bảo hiểm trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà P, bà H không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

- Công ty TNHH E (V) đã được Toà án triệu tập hợp lệ tuy nhiên không có mặt tại

Toà án để có ý kiến, hoặc nộp văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà Lê Thị Phí .

- Ông Nguyễn Thái S là người đại diện hợp pháp của Bảo hiểm xã hội cơ sở L (viết

tắt là BHXH) trình bày: Bảo hiểm xã hội đã xác nhận thời gian tham gia BHXH, bảo hiểm thất nghiệp cho bà Lê Thị P, sinh ngày 01/01/1978, số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx theo công văn số 455/CV-BHXH ngày 28/8/2025.

- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí

Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Lê Thị P là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: các đương sự có yêu cầu giải quyết vắng mặt; người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH E (V) vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu của đương sự:

Trong thời gian từ tháng 9/2010 đến tháng 5/2011, người lao động tên Lê Thị

P giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH E (Vina) và được Công ty TNHH E (V) tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7410276183. Tuy nhiên, bà P và bà H đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH E (Vina) và thực tế làm việc tại công ty T khoảng thời gian trên là bà Lê Thị H (do bà P cho bà H mượn giấy tờ tuỳ nhân).

Xét thấy, theo lời khai của bà P và bà H phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm

cơ sở L, trong khoảng thời gian từ tháng 9/2010 đến tháng 5/2011, người ký kết hợp đồng và làm việc thực tế tại Công ty TNHH E (V) là bà Lê Thị H, chứ không phải là bà Lê Thị P (do bà H mượn thông tin giấy tờ tuỳ thân của bà P ký kết tham gia hợp đồng) nên chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH E (V) trong khoảng thời gian tháng 9/2010 đến tháng 5/2011 là bà Lê Thị H, không phải là bà Lê Thị P.

Theo Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006 và

2007; khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L1 thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”.

Do đó, có cơ sở xác định việc bà H mượn hồ sơ cá nhân của bà P để giao kết hợp

đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 7410276183 từ tháng 9/2010 đến tháng 5/2011 tại Công ty TNHH E (V) là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị P về

việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị P với Công ty TNHH E (V) theo sổ bảo hiểm xã hội số 7410276183 bị vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về xem xét yêu

cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà P và bà H không yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu. Về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH E (V) trong giai đoạn 9/2010 đến tháng 5/2011 là bà Lê Thị H, không phải là bà Lê Thị P, bà P và bà H có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7410276183.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố

tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: bà Lê Thị P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39;Điều

146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 15, 16, 49 của Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm

2002, 2006 và 2007;

- Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52 của Bộ

luật Lao động năm 2012;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51 của Bộ

luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Lê Thị P.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị P với Công ty TNHH E (V) (theo

sổ bảo hiểm xã hội số 7410276183) bị vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7410276183 không phải là

bà Lê Thị P, sinh năm 1978, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, chứng minh nhân dân số: xxxxxxxxx, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Bà Lê Thị P và bà Lê Thị H được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7410276183.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Lê Thị P phải chịu 300.000 (ba trăm

nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0021307 ngày 30/9/2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo

trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ