vanban.org

Quyết định 24/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/03/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Nguyễn Thị T.

Tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa bà Nguyễn Thị T với Công ty Cổ phần G (nay là Công ty Cổ phần C) (thời gian làm việc từ tháng 04/2010 đến tháng 05/2012) vô hiệu. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng lệ phí … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị Thảo yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 24/2024/QĐST-LĐDĩ An, ngày 29 tháng 3 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai.

Thư ký phiên họp: Ông Lê Duy Long - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 34/2024/TLST-LĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 22/2024/QĐST-LĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1990; thường trú: Ấp H, xã T, huyện M, tỉnh S, vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1994; thường trú: Xóm P, xã T, huyện T, tỉnh S, vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty Cổ phần G); trụ sở: Lô C đường số B, khu công nghiệp T, phường T, thành phố D, tỉnh B.

Người đại diện hợp pháp: Ông Hoàng Ngọc H1, sinh năm 1961; thường trú: 278/1/23 G, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 15/3/2024), vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh B; địa chỉ: Đường T, khu T, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh B.

Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T1, sinh năm 1988; địa chỉ: Đường T, Trung tâm hành chính D, phường D, thành phố D, tỉnh B, là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 14/3/2024), vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Tại đơn yêu cầu ngày 01/03/2024; đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu ngày 15/3/2024 và quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà là chị gái ruột của bà Nguyễn Thị H. Năm 2010 bà Nguyễn Thị T cho bà Nguyễn Thị H mượn thông tin cá nhân của bà để làm hồ sơ và ký kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần G (nay là Công ty Cổ phần C). Đến năm 2012 thì bà H nghỉ việc tại công ty này. Khi làm việc thì bà H có tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 04/2010 đến tháng 05/2012.

Cũng trong thời gian đó, bà T giao kết hợp đồng lao động với Công ty trách nhiệm hữu hạn H2 và có đóng bảo hiểm xã hội số: 7409142263 cho đến nay.

Nay bà T xác định thực tế trong thời gian từ tháng 04/2010 đến tháng 05/2012 bà không phải là người trực tiếp ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty Cổ phần G (nay là Công ty Cổ phần C), việc em gái của bà là Nguyễn Thị H mượn tên bà để ký hợp đồng lao động với Công ty là không đúng quy định dẫn tới việc bà đi làm thủ tục về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp bị vướng do trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Do đó, bà yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị T (do em gái Nguyễn Thị H mượn tên) với Công ty Cổ phần G (nay là Công ty Cổ phần C) (thời gian làm việc từ 04/2010 đến tháng 05/2012) vô hiệu. Bà T chỉ yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, ngoài ra không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Việc bà Nguyễn Thị H mượn hồ sơ lao động của bà T để làm việc tại Công ty Cổ phần G (nay là Công ty Cổ phần C) là lỗi của bà T và bà Nguyễn Thị H, không liên quan đến Công ty. Do đó, bà T tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định. Ngoài ra, bà T xác định không có ý kiến, hay yêu cầu gì khác trong việc này.

* Tại Bản tự khai đề ngày 15/3/2024, người đại diện hợp pháp của Công ty Cổ phần C là ông Hoàng Ngọc H1 trình bày:

Qua rà soát, công ty xác định bà Nguyễn Thị T có ký hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần G (nay đã sáp nhập vào Công ty Cổ phần C) khoảng năm 2010. Còn thời gian cụ thể thì công ty không cung cấp được, do đã lâu hồ sơ lao động đối với bà Nguyễn Thị T đã thất lạc. Khi ký hợp đồng lao động Công ty Cổ phần G đã thực hiện đầy đủ về việc đóng bảo hiểm cho người lao động. Sau đó, khoảng năm 2012 bà T nghỉ việc cho đến nay.

Quá trình làm việc với Tòa án công ty mới biết bà Nguyễn Thị H mượn hồ sơ thông tin cá nhân của bà T để vào công ty làm việc. Nay với yêu cầu của bà T thì công ty đồng ý . Đối với hậu quả của hợp đồng vô hiệu, công ty không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Còn về việc ký lại hợp đồng lao động với bà Nguyễn Thị H trong thời gian thực tế bà H làm việc cho công ty thì công ty không đồng ý. Bởi lẽ, việc bà H lấy thông tin cá nhân của bà T đề làm việc tại công ty là một hành vi gian dối, lỗi dẫn đến việc công ty ký kết hợp đồng với bà T (nhưng bà H mới là người thực tế làm việc tại công ty) là do bà T và bà H và thời gian làm việc đã quá lâu. Ngoài ra, công ty không có yêu cầu gì khác.

* Tại Bản tự khai đề ngày 14/3/2024, người đại diện hợp pháp của Bảo hiểm xã hội thành phố D là ông Dương Văn T1 trình bày:

Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty Cổ phần G (nay là Công ty Cổ phần C) cho người lao động thì Công ty Cổ phần G có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị T, sinh ngày 05/5/1990, số CMND xxxxxxxxx (CCCD xxxxxxxxxxxx), với mã số BHXH 7410115247 từ tháng 04/2010 đến tháng 05/2012 chưa nhận trợ cấp BHXH.

Ngoài ra bà Nguyễn Thị T còn có mã số:

- 748272219 tham gia BHXH từ tháng 10/2008 đến tháng 02/2009 tại Công ty Cổ phần G.

- 7409142263 tham gia BHXH từ tháng 02/2009 đến tháng 3/2024 tại Công ty TNHH H2.

Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Nguyễn Thị T, BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này. Về các yêu cầu khác của bà Nguyễn Thị T, Bảo hiểm xã hội thành phố D không có ý kiến và đề nghị Toà án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà Nguyễn Thị H là em gái ruột của bà Nguyễn Thị T. Vào tháng 04/2010 bà H có mượn thông tin cá nhân của chị gái bà là bà Nguyễn Thị T để giao kết hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần G (nay là Công ty Cổ phần C). Bà H làm việc tại Công ty Cổ phần G từ tháng 04/2010 đến tháng 05/2012.

Tuy nhiên, trước khi bà H giao kết hợp đồng lao động với Công ty cổ phần G (nay là Công ty Cổ phần C) thì bà Nguyễn Thị T cũng đang sử dụng thông tin này để giao kết Hợp đồng lao động với Công ty TNHH H2.

Do đó, khi bà Nguyễn Thị T liên hệ Bảo hiểm xã hội xin rút hồ sơ bảo hiểm xã hội thì nhận được thông báo là thông tin bảo hiểm bị trùng. Nay bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu và không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì bà đồng ý và không có ý kiến hay yêu cầu gì trong việc này.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét đơn yêu cầu: Thẩm phán được phân công thụ lý và giải quyết vụ việc dân sự đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tại phiên họp đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Yêu cầu của bà Nguyễn Thị T là có căn cứ, đề nghị Toà án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguời yêu cầu giải quyết việc dân sự là bà Nguyễn Thị T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp đồng thời có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Việc bà Nguyễn Thị H lấy tên bà Nguyễn Thị T để giao kết hợp đồng lao động là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006 và 2007. Qua rà soát, Bảo hiểm xã hội thành phố D cung cấp thông tin Công ty Cổ phần G có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị T, sinh ngày 05/5/1990, số CMND xxxxxxxxx (CCCD xxxxxxxxxxxx), với mã số BHXH 7410115247 từ tháng 04/2010 đến tháng 05/2012. Do đó, việc bà Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động (04/2010 đến tháng 05/2012) giữa bà Nguyễn Thị T (do bà Nguyễn Thị H mượn tên) với Công ty Cổ phần G (nay là Công ty Cổ phần C) vô hiệu là có căn cứ theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc dân sự, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu lệ phí theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, các Điều 149, 361, 370, 371, 372 và Điều 401, 402 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 127, 132 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006 và 2007;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Nguyễn Thị T.

Tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa bà Nguyễn Thị T với Công ty Cổ phần G (nay là Công ty Cổ phần C) (thời gian làm việc từ tháng 04/2010 đến tháng 05/2012) vô hiệu.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng lệ phí bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004492 ngày 05/3/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ