vanban.org

Quyết định 23/2026/QĐST-VLĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

đổi, bổ sung năm năm 2002, năm 2006, năm 2007); luật Lao động năm 2012; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Sơn Thị Thanh Tiền yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? 39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 23/2026/QĐST-VLĐ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 01 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Chu Thị Vân.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tường Vi - Thư ký Tòa án nhân dân

Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên họp: Bà Bùi Phương Uyên - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 16 -

Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 07/2026/TLST-VLĐ ngày 08 tháng 01 năm 2026 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 12/2026/QĐST-VLĐ ngày 15 tháng 01 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Sơn Thị Thanh T, sinh năm 1990; thường trú: Ấp S,

xã H, tỉnh Vĩnh Long; địa chỉ liên lạc: Số A tổ A, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Công ty TNHH G; trụ sở: Lô C, đường số F, khu công nghiệp V -

Singapore (V), phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

2/ Bà Sơn Thị Thanh H, sinh năm 1995; địa chỉ: thường trú: Ấp S, xã H, tỉnh

Vĩnh Long. Có yêu cầu vắng mặt.

3/ Bảo hiểm xã hội cơ sở Bình Dương - Thành phố H; địa chỉ: Số A đường L,

phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải

quyết bà Sơn Thị Thanh T trình bày: Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2011 đến tháng 4/2013, bà T nghỉ việc để chờ nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần theo mã số sổ 7410182819 trong thời gian bà T làm việc tại Công ty TNHH E. Tuy nhiên, trong thời gian từ tháng 10/2011 đến tháng 4/2013, bà T cho em gái là bà Sơn Thị Thanh H mượn thông tin cá nhân để xin việc làm tại Công ty TNHH G. Quá trình lao động dưới tên bà T thì bà H được Công ty TNHH G mã số sổ 7411268075, thời gian tham gia từ tháng 10/2011 đến tháng 4/2013. Bà T xác định người thực tế ký hợp đồng và tham gia bảo hiểm xã hội trong thời gian lao động tại Công ty TNHH G là bà H nên để điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Sơn Thị Thanh T (thực tế là bà Sơn Thị Thanh H ký và làm việc) với Công ty TNHH G bị vô hiệu (mã số sổ BHXH 7411268075). Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả gì về việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Sơn Thị Thanh H trình bày: Bà

H thống nhất với lời khai của bà T về quá trình lao động của bà tại Công ty TNHH G. Trong thời gian tháng 10/2011, bà H chưa đủ tuổi để xin việc làm nên đã nhờ chị ruột là bà Sơn Thị Thanh T cho mượn thông tin cá nhân để bà H ký hợp đồng, làm việc tại Công ty TNHH G và được tham gia bảo hiểm xã hội mã số sổ 7411268075 trong khoảng thời gian từ tháng 10/2011 đến tháng 4/2013. Bà H mượn thông tin của bà T với mục đích xin việc làm để có thêm thu nhập cho bản thân và phụ giúp gia đình. Đến nay bà T làm thủ tục về bảo hiểm xã hội thì phải điều chỉnh thông tin cho chính xác nên bà H đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà T, tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Sơn Thị Thanh T (thực tế là bà Sơn Thị Thanh H ký và làm việc) với Công ty TNHH G bị vô hiệu (mã số sổ BHXH 7411268075). Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả gì về việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Tại Công văn số 808/CV-BHXH ngày 28/9/2025 của Bảo hiểm xã hội cơ sở

Lái Thiêu cung cấp thông tin của người lao động tin Sơn Thị Thanh T như sau: Từ tháng 6/2010 đến tháng 4/2011 bà T tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH E với mã số sổ 7410182819, chưa nhận trợ cấp thất nghiệp, đã nhận hết trợ cấp BHXH một lần. Từ tháng 10/2011 đến tháng 4/2013 bà T tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH G với mã số sổ BHXH 7411268075, chưa thực hiện chốt sổ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở B và Công ty

TNHH G không cung cấp ý kiến cho Tòa án.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ

Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Người yêu cầu bà Sơn Thị Thanh T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Sơn Thị Thanh H có yêu cầu giải quyết vắng mặt; Bảo hiểm xã hội cơ sở B và Công ty TNHH G vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự là phù hợp. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Sơn Thị Thanh T là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu bà Sơn Thị Thanh T, người có quyền

lợi, nghĩa vụ liên quan bà Sơn Thị Thanh H có yêu cầu giải quyết vắng mặt; Bảo hiểm xã hội cơ sở B và Công ty TNHH G vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu của đương sự:

Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2011 đến tháng 4/2013, người lao

động có tên Sơn Thị Thanh T làm việc tại Công ty TNHH G và tham gia bảo hiểm xã hội số 7411268075. Tuy nhiên, bà T xác định, trong khoảng thời gian từ tháng 10/2011 đến tháng 4/2013 bà T không làm việc tại Công ty TNHH G và đang chờ nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần theo mã số sổ BHXH 7410182819 trong thời gian bà T làm việc tại Công ty TNHH E. Tuy nhiên, bà T xác định trong khoảng thời gian từ tháng 10/2011 đến tháng 4/2013 bà T cho em gái là bà Sơn Thị Thanh H mượn thông tin cá nhân để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH G và tham gia bảo hiểm xã hội mã số sổ 7411268075.

Xét thấy, lời khai của bà T phù hợp với lời khai của bà H và phù hợp

với xác nhận thông tin do Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu cung cấp, bởi lẽ trong thời gian bà T chờ nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần theo mã số sổ BHXH 7410182819 thì thông tin của người lao động Sơn Thị Thanh T lại tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ 7411268075 từ tháng 10/2011 đến tháng 4/2013.

Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15

của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”.

Do đó, có căn cứ xác định chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty

TNHH G trong khoảng thời gian từ tháng 10/2011 đến tháng 4/2013 là bà Sơn Thị Thanh H, không phải là bà Sơn Thị Thanh T nên toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động vi phạm pháp luật và bị vô hiệu.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Sơn Thị

Thanh T về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Sơn Thị Thanh T với Công ty TNHH G (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411268075) bị vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét

yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu: “... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà Sơn Thị Thanh T về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH G trong giai đoạn từ tháng 10/2011 đến tháng 4/2013 không phải là bà Sơn Thị Thanh T. Bà Sơn Thị Thanh T và bà Sơn Thị Thanh H có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7411268075.

Y kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ

Chí Minh về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cung như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Bà Sơn Thị Thanh T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều

39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 9, Điều 30 của Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa

đổi, bổ sung năm năm 2002, năm 2006, năm 2007);

- Căn cứ khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, các Điều 50, 51 và 52 của Bộ

luật Lao động năm 2012;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16, các Điều 49, 50 và 51 của Bộ

luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Uy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Sơn Thị

Thanh T.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Sơn Thị Thanh T với Công ty TNHH

G (Theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411268075) bị vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411268075 không

phải là bà Sơn Thị Thanh T, sinh năm 1990; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx. Bà Sơn Thị Thanh T và bà Sơn Thị Thanh H được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7411268075.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Sơn Thị Thanh T phải chịu

300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0056702 ngày 31/12/2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng

cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ