- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị Hồng Đ - yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? 39; Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 127 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 226/2025/QĐST-LĐ | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 10 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngân.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Hà Giang - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân Khu vực 16 - Thành
phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 300/2025/TLST-VLĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 192/2025/QĐST-LĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ, sinh năm 1995; địa chỉ: ấp T, xã
C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, Thành phố Cần Thơ); có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Cát C, sinh năm 2001; địa chỉ thường trú: ấp T, xã C, huyện L,
tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, Thành phố Cần Thơ); có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Công ty Trách nhiệm hữu hạn J; địa chỉ: lô C, khu công nghiệp V, phường
T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông CHU CHIH HUA – Chức vụ: Tổng Giám
đốc; vắng mặt.
3. Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam); địa chỉ: Lô D, đường số B,
khu công nghiệp V, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông YANG TE CHANG; vắng mặt.
4. Công ty Trách nhiệm hữu hạn K; địa chỉ: lô C, khu công nghiệp V,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông YANG TE CHANG; vắng mặt.
5. Bảo hiểm xã hội cơ sở L – Bảo hiểm xã hội Thành phố H; địa chỉ: đường
N, khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
1. Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình
giải quyết vụ việc, bà Nguyễn Thị Hồng Đ trình bày:
Trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 9 năm 2016, bà
Nguyễn Thị Hồng Đ đang làm việc tại Công ty TNHH S, Công ty TNHH T và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số: 9415003408. Bà Đ đi làm thủ tục tại bảo hiểm xã hội thì được biết bảo hiểm xã hội của bà bị trùng trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 09 năm 2016. Nguyên nhân bị trùng bảo hiểm xã hội là do vào thời điểm từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 9 năm 2016, bà Đ cho bà Lê Cát C mượn chứng minh nhân dân để làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn J, Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K. Quá trình làm việc, bà C được Công ty Trách nhiệm hữu hạn J, Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ bảo hiểm là 7414131756. Vì thiếu hiểu biết, nghĩ rằng việc cho bà C mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động với Công ty Trách nhiệm hữu hạn J, Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K là không vi phạm gì và chỉ mong muốn cho bà C có công việc để trang trải cuộc sống nên bà Đ mới cho mượn chứng minh nhân dân.
Bà Đ yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa người
dùng tên Nguyễn Thị Hồng Đ với Công ty Trách nhiệm hữu hạn J, Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 9 năm 2016 vô hiệu. Bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Trách nhiệm hữu hạn J,
Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K đã được Tòa án thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập để tham gia phiên họp nhưng người đại diện hợp pháp của Công ty vắng mặt không rõ lý do, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà Đ cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
3. Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Cát C: bà C và
bà Đ có mối quan hệ quen biết. Từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 9 năm 2016, bà C không đủ hồ sơ xin việc nên đã mượn chứng minh nhân dân của bà Đ để xin vào làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn J, Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam), Công ty Trách nhiệm hữu hạn K và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 9 năm 2016 với số sổ bảo hiểm xã hội là 7414131756. Nay bà C thống nhất toàn bộ yêu cầu của bà Đ và đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa người có tên Nguyễn Thị Hồng Đ với Công ty Trách nhiệm hữu hạn J, Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 9 năm 2016 vô hiệu. Sau khi kết thúc hợp đồng lao động với Công ty Trách nhiệm hữu hạn J, Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K thì bà C chưa nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần, bà C không yêu cầu gì liên quan đến bảo hiểm trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Đ. Bà C không yêu cầu gì khác.
4. Ý kiến của người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Bảo hiểm xã hội (sau đây viết tắt là BHXH) cơ sở L trình bày:
Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT),
bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty Trách nhiệm hữu hạn J, Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K cho người lao động thì các công ty này có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị Hồng Đ, sinh năm 1995, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7414131756 có quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng tháng 5 năm 2014 đến tháng 9 năm 2016 tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn J, Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K. Mặt khác, bà Nguyễn Thị Hồng Đ còn có mã số 9415003408 từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 9 năm 2016 tại Công ty TNHH S và Công ty TNHH T. Đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu trong suốt quá trình tố tụng.
5. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố
Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: xét thấy, yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hồng Đ là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: người yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng Đ; người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Cát C và Bảo hiểm xã hội cơ sở L có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Trách nhiệm hữu hạn J, Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K vắng mặt. Căn cứ Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Xem xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hồng Đ:
Bà Đ xác nhận trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2014 đến tháng
9 năm 2016, bà Đ có cho bà Lê Cát C mượn chứng minh nhân dân để đi giao kết hợp đồng lao động (với tên Nguyễn Thị Hồng Đ) với Công ty Trách nhiệm hữu hạn J, Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K và được các Công ty này tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7414131756. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Cát C thừa nhận việc mượn chứng minh nhân dân của bà Đ để đi giao kết hợp đồng lao động với các công ty trên trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 9 năm 2016 và tham gia bảo hiểm với mã số 7414131756.
Xét thấy: lời khai của bà Đ và bà C phù hợp với xác nhận của Bảo
hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu về quá trình tham gia bảo hiểm của bà Đ vì trong khoảng thời gian này, bà Đ đang làm việc tại các công ty khác và có tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm khác. Như vậy, có cơ sở xác định chủ thể ký kết hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn J, Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 9 năm 2016 là bà C, không phải là bà Đ.
Theo Điều 9 của Bộ luật Lao động năm 1994 và khoản 1 Điều 15 của
Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động được xác lập và tiến hành qua thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, thực hiện đầy đủ những điều đã cam kết.”; “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”;“Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội”.
Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao
động tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019 thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”.
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019
về hợp đồng lao động vô hiệu thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Mặt khác, theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L1 thì: “Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà Cát M hồ sơ cá nhân của bà Đ để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ bảo hiểm xã hội số 7414131756 từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 9 năm 2016 tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn J, Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Đ về
việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa bà Nguyễn Thị Hồng Đ (do bà Lê Cát C là chủ thể trực tiếp ký kết) với Công ty Trách nhiệm hữu hạn J, Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K Yin Wang theo sổ bảo hiểm xã hội số 7414131756 từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 9 năm 2016 bị vô hiệu.
[2.5] Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về xem xét
yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu": Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đ và ý kiến của bà Đ về việc xác định người lao động làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn J, Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K trong giai đoạn từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 9 năm 2016 là bà Lê Cát C, không phải là bà Nguyễn Thị Hồng Đ. Bà Đ và bà C có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7414131756.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố
Hồ Chí Minh là phù hợp.
Về lệ phí: bà Nguyễn Thị Hồng Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) lệ phí việc lao động.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều
39; Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các điều 122, 132, 137 của Bộ luật Dân sự năm 2005 (các điều
117, 122, 127 và 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015);
- Căn cứ Điều 9 của Bộ luật Lao động năm 1994 (các điều 15, 16, 49, 50 và
Điều 51 của Bộ luật Lao động năm 2019);
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị
Hồng Đ.
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Hồng Đ với Công ty
Trách nhiệm hữu hạn J, Công ty Trách nhiệm hữu hạn F (Việt Nam) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn K (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7414131756) bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7414131756 không
phải là bà Nguyễn Thị Hồng Đ, sinh năm 1995, giới tính: nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Bà Nguyễn Thị Hồng Đ và bà Lê Cát C được quyền liên hệ với C1 có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7414131756.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Nguyễn Thị Hồng Đ phải
chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu số 0016719 ngày 11/9/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng
cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; - Đương sự; - Lưu: hồ sơ, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Ngân |