- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Bà Nguyễn Thị M yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Nguyễn Thị M.
- Căn cứ chính? Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 214/2025/QĐST-LĐ |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Kiều Thị Uyên.
Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Bùi Phương Uyên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Dân sự thụ lý số: 305/2025/TLST-VLĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 179/2025/QĐST-VLĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1989; thường trú: tổ D, khu phố D, phường B, tỉnh Đồng Nai. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty TNHH V; địa chỉ: Lô F, Đường số E, KCN Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
2. Bảo hiểm xã hội cơ sở B thuộc Bảo hiểm xã hội Thành phố B; địa chỉ: Khu phố E, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1992; địa chỉ thường trú: Xóm Q, xã Q, tỉnh Nghệ An; địa chỉ liên lạc: 989/19/2 Tỉnh lộ 43, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Tại đơn yêu cầu ngày 28/8/2025 và lời khai trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu bà Nguyễn Thị M trình bày:
Từ tháng 5 năm 2008 đến nay, bà Nguyễn Thị M làm việc tại Công ty TNHH F (Việt Nam) và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số 7908227879. Hiện nay, bà M có nhu cầu rút bảo hiểm nên liên hệ với Bảo hiểm xã hội để rút bảo hiểm theo đúng quy định nhưng phía Bảo hiểm xã hội thông báo thời điểm từ tháng 02 năm 2008 đến tháng 7 năm 2009 bà M có ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH V và Công ty TNHH V có thực hiện đóng bảo hiểm lao động mã số 7408024428 cho bà M vào thời gian trên. Do đó, đến nay bà M không thể rút bảo hiểm xã hội theo đúng quy định.
Lý do bà Nguyễn Thị M có nhiều số sổ bảo hiểm vì thời điểm tháng 02/2008 đến tháng 7/2009, bà M cho em họ của bà M là bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1992 mượn thông tin cá nhân để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH V; địa chỉ: Lô F, Đường số E, KCN Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Lý do bà M cho bà Nguyễn Thị H mượn hồ sơ là vì thời điểm năm 2008 bà Nguyễn Thị H chưa đủ tuổi lao động, không đủ điều kiện tham gia giao kết hợp đồng lao động nên mới mượn và sử dụng thông tin của bà Nguyễn Thị M để giao kết Hợp đồng lao động với Công ty TNHH V với mã số bảo hiểm là 7408024428 từ tháng 02 năm 2008 đến tháng 7 năm 2009.
Vì vậy, bà Nguyễn Thị M yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết: Tuyên Hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị M (thực tế do bà Nguyễn Thị H ký kết) với Công ty TNHH V; địa chỉ: Lô F, Đường số E, KCN Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh với với mã số bảo hiểm xã hội là 7408024428 là vô hiệu.
- Tại bản tự khai ngày 13/10/2025, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà Nguyễn Thị H là em họ của bà Nguyễn Thị M, vào thời điểm năm 2008, bà Nguyễn Thị H không đủ điều kiện để ứng tuyển lao động do không đủ tuổi ứng tuyển lao động, do không hiểu biết về mặt pháp luật nên bà Nguyễn Thị H đã mượn hồ sơ và thông tin cá nhân của chị Nguyễn Thị M để làm hồ sơ lao động.
Bà Nguyễn Thị H đã mượn thông tin cá nhân của bà Nguyễn Thị M và đã làm việc tại Công ty TNHH V; địa chỉ: Lô F, Đường số E, KCN Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh từ 02 năm 2008 đến tháng 7 năm 2009 với mã số bảo hiểm xã hội là 7408024428.
Nay, đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị M về việc Tuyên Hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị M (do bà Nguyễn Thị H ký kết) với Công ty TNHH V; địa chỉ: Lô F, Đường số E, KCN Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh từ 02 năm 2008 đến tháng 7 năm 2009 với mã số bảo hiểm xã hội là 7408024428 vô hiệu thì bà Nguyễn Thị H đồng ý.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH V:
Công ty TNHH V được Tòa án thông báo nội dung khởi kiện và tống đạt Quyết định mở phiên họp, nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu của yêu cầu của bà Nguyễn Thị M, không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết việc lao động.
- Tại văn bản số 138/CV-BHXH ngày 15/10/2025 về việc cung cấp thông tin tham gia bảo hiểm xã hội của bà Nguyễn Thị M, Bảo hiểm xã hội cơ sở B thuộc Bảo hiểm xã hội Thành phố B trình bày:
Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1989, được Công ty TNHH V tham gia bảo hiểm xã hội với mã số bảo hiểm xã hội: 7408024428 từ tháng 02 năm 2008 đến tháng 7 năm 2009, đã được Bảo hiểm xã hội xác nhận bảo lưu quá trình đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp.
Thời điểm này được Công ty TNHH V tại văn phòng bảo hiểm xã hội tỉnh B (hiện tại Bảo hiểm xã hội cơ sở B). Theo quy định hiện hành về đăng ký tham gia Bảo hiểm xã hội, BHYT, BHTN cơ quan bảo hiểm xã hội không lưu giữ hợp đồng lao động và các giấy tờ tùy thân của người lao động mà do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ.
Tại thời điểm tra cứu, thông tin giải quyết hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp như sau: Mã số 7408024428 chưa được giải quyết hưởng trợ cấp 1 lần và trợ cấp thất nghiệp.
Trường hợp Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu đề nghị Tòa án tuyên buộc người mượn hồ sơ tư pháp đi làm việc và tham gia BHXH, BHTN được điều chỉnh thông tin nhân thân đúng của người lao động.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét đơn yêu cầu: Thẩm phán được phân công thụ lý và giải quyết vụ việc dân sự đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tại phiên họp đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Yêu cầu của Bà Nguyễn Thị M là có căn cứ, đề nghị Toà án chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Nguyễn Thị M và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H, Bảo hiểm xã hội cơ sở B thuộc Bảo hiểm xã hội Thành phố B vắng mặt tại phiên họp đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH V vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Về nội dung: Qua rà soát, Bảo hiểm xã hội cơ sở Bình Dương thuộc Bảo hiểm xã hội Thành phố B cung cấp thông tin Công ty TNHH V có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1989, số CMND xxxxxxxxx, CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7408024428 từ tháng 02 năm 2008 đến tháng 07 năm 2009. Trong thời gian đó bà Nguyễn Thị M còn có mã số sổ 7908227879 có quá trình tham gia từ tháng 05/2008 đến nay tại Công ty TNHH F (Việt Nam).
Bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị H đều thừa nhận việc bà Nguyễn Thị M cho bà Nguyễn Thị H mượn thông tin cá nhân để ký kết hợp đồng và tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH V.
Việc bà Nguyễn Thị H mượn giấy tờ cá nhân bà Nguyễn Thị M để giao kết hợp đồng lao động là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006 và 2007. Do đó, việc bà Nguyễn Thị M yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị M (do bà Nguyễn Thị H mượn tên) với Công ty TNHH V vô hiệu là có căn cứ theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc dân sự, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng c ng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu lệ phí theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 33, Điểm d khoản 2 Điều 35, các Điều 149, 361, 370, 371, 372 và Điều 401, 402 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 127, 132 Bộ luật Dân sự năm 2005;
Áp dụng Điều 9 của Bộ luật Lao động năm 1994.
Áp dụng khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Nguyễn Thị M.
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị M với Công ty TNHH V SUCCESS với mã số bảo hiểm xã hội: 7408024428 bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408024428 không phải là bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1989, số CMND xxxxxxxxx, CCCD xxxxxxxxxxxx. Bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị H được quyền liên hệ với C1 có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7408024428.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: bà Nguyễn Thị Minh C 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng lệ phí bà M đã nộp theo biên lai thu tiền số 0017156 ngày 12/9/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND KV16 - TP. Hồ Chí Minh; - THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Kiều Thị Uyên |