- Tranh chấp gì? "QĐ đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc Phạm Văn L"
- Tòa quyết gì? Áp dụng (không áp dụng)(7) biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với ………………………………………………………………………………………………. 2.
| THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 20/QĐ-TA | Hải An, ngày 07 tháng 8 năm 2017 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Bình
2. Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Kim Oanh
Ngày 07 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai giáo dục buộc theo Quyết định mở phiên họp số 21/QĐ-TA ngày 28 tháng 7 năm 2017, đối với:
Họ và tên: Phạm Văn L
Giới tính: Nam
Sinh ngày 08 tháng 12 năm 1984
Căn cước công dân số: 031084005071
Ngày cấp: 08/6/2016 Nơi cấp: Cục Cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa: Lớp 6/12
Hộ khẩu thường trú: Số 42 B 1, phường Đ 2, quận H, Hải Phòng.
Chỗ ở: Số 42 B 1, phường Đ 2, quận H, Hải Phòng.
Nghề nghiệp: Không
Tiền án: - Ngày 30/9/2005 bị Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản;
- Ngày 03/6/2014 bị Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Tiền sự: - Ngày 23/5/2016 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường theo Quyết định số 135A/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đông Hải 2, quận Hải An, Hải Phòng.
- Ngày 05/5/2017 bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định Xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPHC của Công an phường Đông Hải 2, quận Hải An, Hải Phòng.
- Ngày 14/6/2017 bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định Xử phạt vi phạm hành chính số 08/QĐ-XPHC của Công an phường Đông Hải 2, quận Hải An, Hải Phòng.
Con ông: Phạm Văn B và bà: Lê Thị T
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Vũ Thị Mai Phương - Cán bộ Công an quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
2. Đại diện Viện kiểm sát: Bà Trần Thị Hồng Vân - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
3. Những người khác:
Đại diện chính quyền phường Đông Hải 2, quận Hải An, Hải Phòng: Bà Trần Thị Huyền Chinh – Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân phường.
NHẬN THẤY:
Phạm Văn L không nghiện ma túy và cũng không mắc bệnh hiểm nghèo, nhưng L là đối tượng lười lao động, đã có 02 tiền án, nhiều lần có hành vi chửi đánh gây thương tích cho người thân và hàng xóm. Ngày 23/5/2016, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đông Hải 2 đã ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với Phạm Văn L trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày 23/5/2016 đến 23/8/2016. Sau đó, L vẫn tiếp tục lặp lại những hành vi vi phạm trên, Cụ thể:
Hồi 21h00’ ngày 27/4/2017, tại nhà của L ở số 42 B 1, phường Đ 2, quận H, Hải Phòng, Phạm Văn L đã dùng một thanh sắt dài 01m đánh vào chân của em gái L là Phạm Thị Thu H, sinh năm 2001 bị thương. H và gia đình đã có đơn từ chối giám định thương tích. Công an phường Đông Hải 2 đã lập hồ sơ xử phạt hành chính đối với L về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác.
Hồi 16h45’ ngày 06/6/2017, tại nhà của L ở số 42 B 1, phường Đ 2, quận H, Hải Phòng, do bực tức với em gái là Phạm Thị Thu H, sinh năm 2001, Phạm Văn L đã dung tay tát vào mặt H. H và gia đình đã có đơn từ chối giám định thương tích. Công an phường Đông Hải 2 đã lập hồ sơ xử phạt hành chính đối với L về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác.
Hồi 18h00’ ngày 07/7/2017, tại nhà của L ở số 42 B 1, phường Đ 2, quận H, Hải Phòng, do mâu thuẫn với bác ruột là Phạm Văn B trong khi bàn việc gia đình, Phạm Văn L đã dùng một thanh tre dài khoảng 01m đánh vào đầu ông B gây thương tích. Ông B đã có đơn từ chối giám định thương tích. Công an phường Đông Hải 2 đã lập hồ sơ đề nghị xem xét đưa L vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Mặc dù các hành vi vi phạm trên của L chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng đã làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cơ quan Công an quận Hải An xét thấy cần thiết phải đưa L vào cơ sở giáo dục bắt buộc để L có điều kiện học tập và sinh hoạt, sửa chữa lỗi lầm, sớm trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội.
Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị là Công an quận Hải An trình bày về hồ sơ và đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Phạm Văn L tại Cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà, tỉnh Vĩnh Phúc với thời hạn là 24 tháng.
Người bị đề nghị - Phạm Văn L nhận thức được những hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác như đã nêu trên của mình là sai. L đồng ý với ý kiến của cơ quan đề nghị đưa L vào cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà để lao động, học tập, nhưng đề nghị Tòa án xem xét giảm thời hạn cho L.
Đại diện chính quyền phường Đông Hải 2 nhất trí với nội dung đề nghị của cơ quan Công an quận Hải An,
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án từ khi thụ lý việc đến thời mở phiên họp như sau: Tòa án đã thực hiện đúng các nội dung quy định tại Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014 về hồ sơ đề nghị, thời hạn, thụ lý, phân công Thẩm phán, thành phần tham gia phiên họp, trình tự thủ tục tiến hành phiên họp và thấy có đủ căn cứ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Phạm Văn L.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thấy: Trong khoảng thời gian từ ngày 27/4/2017 đến ngày 07/7/2017, Phạm Văn L đã 03 lần có hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Phạm Văn L đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày 23/5/2016 đến 23/8/2016 (Theo Quyết định số 135A/QĐ-UBND ngày 23/5/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đông Hải 2, quận Hải An, Hải Phòng). L là người trên 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính và có nơi cư trú ổn định thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 5, Điều 94 của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 16 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP .
Ngày 07/7/2017 là ngày L thực hiện lần cuối hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Do đó, thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với L vẫn còn theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Xét thấy để Phạm Văn L ngoài xã hội không có lợi cho xã hội nên cần thiết phải đưa Phạm Văn L vào cơ sở giáo dục bắt buộc nhằm tạo điều kiện cho L được lao động, học tập, sửa chữa lỗi lầm, sớm trở thành công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội. Vì vậy, việc đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Phạm Văn L của cơ quan Công an quận Hải An là hoàn toàn có căn cứ nên chấp nhận.
Xét nhân thân của Phạm Văn L thấy: L đã hai lần bị Tòa án kết án; vi phạm hành chính nhiều lần, nhưng tình tiết này là điều kiện để áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với L nên không được coi là tình tiết tăng nặng theo quy định tại Khoản 2 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Phạm Văn L tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của Phạm Văn L, Tòa án nhân dân quận Hải An thấy cần phải đưa Phạm Văn L vào cơ sở giáo dục bắt buộc một thời gian đủ để L có điều kiện lao động, học tập trở thành người có ích cho gia đình và xã hội theo quy định tại Điều 93 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Phạm Văn L.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc tại Cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà, tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định
- Phạm Văn L có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
- Thời hạn kiến nghị của , kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an quận Hải An có trách nhiệm thi hành quyết định này.
Nơi nhận:
THẨM PHÁN
- Phạm Văn L;
- Trưởng Công an quận Hải An;
- Công an quận Hải An;
- UBND phường Đông Hải 2;
- Cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà;
- VKSND quận Hải An;
- Lưu: VT, hồ sơ.
Nguyễn Thị Bình Mẫu số 08 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số.../2015/NQ-HĐTP ngày... tháng... năm 2015 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)
(1)
TÒA ÁN ……………
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-------
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: …../QĐ-TA
………, ngày ….. tháng ….. năm …..
QUYẾT ĐỊNH
(2) Áp dụng (không áp dụng) biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN …………………………(3)
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có: 1. Thẩm phán: …………………………………………………………………………………………. 2. Thư ký phiên họp: ………………………………………………………………………………….. Ngày ……. tháng ……. năm ……., tại ….………….………….…….. (4) tiến hành phiên họp xem xét,quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo Quyết địnhmở phiên họp số ……………. ngày …… tháng …… năm …… đối với: Họ và tên: ………………………………………………………………….. Giới tính: ……… Sinh ngày: ……………………………………………………………………………………… CMND số: ………………………… Ngày cấp: …………………. Nơi cấp: ………………. Dân tộc: ………………………………………………………………………………………… Tôn giáo: ………………………………………………………………………………………. Trình độ văn hóa: ……………………………………………………………………………… Nguyên quán: …………………………………………………………………………………. Hộ khẩu thường trú: …………………………………………………………………………. Chỗ ở: …………………………………………………………………………………………. Nghề nghiệp: …………………………………………………………………………………. Tiền án: ………………………………………………; tiền sự: ……………………………. Con ông: …………………………………………….. và bà: ………………………………. Có mặt (vắng mặt) tại phiên họp. Có sự tham gia của: 1. Đại diện cơ quan đề nghị: ………………………………………………………………… 2. Đại diện Viện kiểm sát ……………………………………………………………………. 3. Người đại diện hợp pháp của người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa cơ sở giáo dục bắt buộc: …………………………………………………………………………………………………… 4. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị: …………………………………………………………………………………………………… 5. Những người khác: …………………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………
NHẬN THẤY:(5)
…………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………
XÉT THẤY:(6)
…………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………… Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng (không áp dụng)(7) biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với ………………………………………………………………………………………………. 2. Thời gian chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc là ………… tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc. 3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định.(8) 4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. 5. Cơ quan thi hành quyết định: ………………………………………………………………….. (9)
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Ghi theo khoản 1 Điều 24 của Pháp lệnh; - Lưu hồ sơ. Hướng dẫn sử dụng mẫu số 08: (1) và (3) Ghi tên Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; cần ghi rõ Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân quận N, thành phố C). (2) Trường hợp Tòa án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thì bỏ cụm từ “(không áp dụng)”. (4) Ghi địa điểm Tòa án tiến hành mở phiên họp (ví dụ: tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố C). (5) Ghi tóm tắt hành vi vi phạm của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc; các ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Viện kiểm sát, người bị đề nghị tại phiên họp. (6) Đánh giá, phân tích của Thẩm phán về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị; đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng; về ý kiến của người tham gia phiên họp; lý do, căn cứ và sự cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người bị đề nghị. (7) Trường hợp Tòa án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thì có điểm 2 và điểm 5 phần quyết định; trường hợp Tòa án quyết định không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thì bỏ điểm 2 và điểm 5 phần quyết định. (8) Ghi quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị, thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị theo quy định tại các điều 30, 31 và 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. (9) Ghi tên cơ quan có trách nhiệm thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính. |