vanban.org

Quyết định 20/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Tuyên án 02/12/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim H: Tuyên bố Hợp đồng lao động số 5615 ngày 23/10/2009 ký kết giữa người lao động là Nguyễn Thị Kim H (nhưng do chị Nguyễn Thị Hồng T1 là người ký kết) với người sử dụng lao động là công ty TNHH I vô hiệu.

Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Giao cho các cơ quan chức năng có liên quan điều chỉnh thông tin nhân thân tại sổ bảo hiểm số 3409026725 từ Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1990; nơi cư trú: Xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình, số CMND xxxxxxxxx do Công an tỉnh T cấp ngày 31/7/2006 thành Nguyễn Thị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Hương-Thái (lao động)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim H: Tuyên bố Hợp đồng lao động số 5615 ngày 23/10/2009 ký kết giữa người lao động là Nguyễn Thị Kim H (nhưng do chị Nguyễn Thị Hồng T1 là người ký kết) với người sử dụng lao động là công ty TNHH I vô hiệu.
  • Căn cứ chính? Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨ THƢ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 20/2024/QĐST-LĐVũ Thư, ngày 23 tháng 10 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƢ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thiên Nhẫn - Kiểm sát viên.

Ngày 23/10/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 20/2024/TLST-VLĐ ngày 08/10/2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố Hợp động lao động vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 20/2024/QĐ-MPH ngày 17/10/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Ngƣời yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn Ô, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

2. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1. Công ty TNHH I; Địa chỉ: K+500 đường A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Park Tae C, chức vụ: Tổng giám đốc.

2.2. Bảo hiểm xã hội tỉnh T; Địa chỉ: Số G, đường L, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T, chức vụ: Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh T.

2.3. Chị Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

(Các đương sự đều vắng mặt và có đơn đề nghị vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu ngày 27/9/2024 và bản tự khai trong quá trình tố tụng, người yêu cầu - chị Nguyễn Thị Kim H trình bày:

Chị và chị Nguyễn Thị Hồng T1 là chị em họ. Năm 2009, chị đã cho chị Nguyễn Thị Hồng T1 mượn giấy chứng minh nhân dân của chị để chị Nguyễn Thị Hồng T1 ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH I vào ngày 23/10/2009. Chị T1 đã làm việc tại Công ty TNHH I theo Hợp đồng lao động đến tháng 3/2010 thì chị T1 xin nghỉ việc. Quá trình làm việc tại Công ty, chị T1 tham gia bảo hiểm xã hội với tên Nguyễn Thị Kim H theo số sổ 3409026725. Trong khi cùng thời điểm, chị đang làm việc cho Công ty cổ phần S tại thành phố T và tham gia bảo hiểm xã hội theo số sổ 3409009310. Năm 2019, chị xin nghỉ việc và xin chốt sổ bảo hiểm, tuy nhiên không thực hiện được do bảo hiểm xã hội mang tên chị có hai sổ và bị trùng từ tháng 10/2009 đến tháng 02/2010. Để đảm bảo quyền lợi của chị và chị Nguyễn Thị Hồng T1, chị làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động số 5615 ngày 23/10/2009 ký kết giữa người lao động là Nguyễn Thị Kim H (nhưng do chị Nguyễn Thị Hồng T1 là người tham gia ký kết) và Công ty TNHH I vô hiệu; đề nghị Toà án giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Công ty TNHH I trình bày: Thời gian từ ngày 23/10/2009 đến ngày 23/10/2010, Công ty TNHH I ký kết hợp đồng lao động với chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1990; nơi cư trú: Xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình, số CMTND xxxxxxxxx do Công an tỉnh T cấp ngày 31/7/2006. Tháng 3/2010 chị H xin nghỉ việc và sau đó không ký thêm hợp đồng lao động nào khác với Công ty TNHH I. Quá trình làm việc tại Công ty, Công ty đã đóng đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo số sổ 3409026725 cho chị Nguyễn Thị Kim H. Từ tháng 10/2009 đến tháng 3/2010, Công ty TNHH I không ký kết hợp đồng lao động với chị Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Việc chị Nguyễn Thị Hồng T1 lấy tên chị Nguyễn Thị Kim H để ký kết hợp đồng lao động với Công ty, Công ty không biết. Đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim H, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bảo hiểm xã hội tỉnh T trình bày: Thời gian đóng BHXH, BHYT, BHTN của bà Nguyễn Thị Kim H từ tháng 10/2009 đến tháng 02/2010 tại Công ty TNHH I theo số sổ BHXH số 3409026725 là 05 tháng (Chưa lĩnh BHXH một lần và chưa lĩnh trợ cấp thất nghiệp). Thời gian đóng BHXH, BHYT, BHTN của bà Nguyễn Thị Kim H từ tháng 9/2008 đến tháng 10/2024 tại Công ty cổ phần S theo sổ BHXH số 3409009310 là 15 năm 07 tháng BHXH và 14 năm 03 tháng BHTN (chưa lĩnh BHXH một lần và chưa lĩnh trợ cấp thất nghiệp). Nay bà Nguyễn Thị Kim H đề nghị tuyên bố Hợp đồng lao động ký kết giữa bà Nguyễn Thị Hồng T1 nhưng lấy tên là Nguyễn Thị Kim H với Công ty TNHH I trong khoảng thời gian từ tháng 10/2009 đến tháng 02/2010 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, Bảo hiểm xã hội tỉnh đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - chị Nguyễn Thị Hồng T1 trình bày: Năm 2009, chị đã mượn chứng minh nhân dân của chị Nguyễn Thị Kim H để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH I. Chị là người viết, ký vào hồ sơ xin việc mang tên chị Nguyễn Thị Kim H. Chị làm việc tại Công ty TNHH I từ tháng 10/2009 đến tháng 3/2010 thì nghỉ việc. Quá trình làm việc tại Công ty, chị tham gia bảo hiểm xã hội với tên chị Nguyễn Thị Kim H theo số sổ 3409026725. Trong khi cùng thời điểm từ tháng 10/2009 đến tháng 3/2010, chị H làm việc tại Công ty cổ phần S và tham gia bảo hiểm xã hội theo số sổ 3409009310. Năm 2009, chị H xin nghỉ việc và xin chốt sổ bảo hiểm xã hội nhưng không thực hiện được do bảo hiểm xã hội mang tên Nguyễn Thị Kim H có hai sổ và bị trùng từ tháng 10/2009 đến tháng 02/2010. Nay chị Nguyễn Thị Kim H đề nghị tuyên bố Hợp đồng lao động số 5615 ngày 23/10/2009 ký kết giữa người lao động là Nguyễn Thị Kim H (nhưng do chị là người tham gia ký kết) và Công ty TNHH I vô hiệu, đề nghị Toà án giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu, chị đề nghị Toà án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị: Đề nghị Tòa án căn cứ vào các Điều 33, điểm v khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 3 Điều 367, Điều 370, Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994; khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2012; Điều 15, Điều 50, Điều 51 Bộ luật lao động 2019, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim H, đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động số 5615 ngày 23/10/2009 ký kết giữa người lao động là Nguyễn Thị Kim H (nhưng do chị Nguyễn Thị Hồng T1 là người tham gia ký kết) và Công ty TNHH I là vô hiệu. Chị Nguyễn Thị Kim H và chị Nguyễn Thị Hồng T1 có quyền liên hệ với Bảo hiểm xã hội tỉnh T để làm thủ tục điều chỉnh thông tin nhân thân trên sổ Bảo hiểm xã hội số 3409026725 từ Nguyễn Thị Kim H thành Nguyễn Thị Hồng T1. Chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc lao động.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Người yêu cầu gửi đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người lao động ký kết và thực hiện Hợp đồng lao động với Công ty TNHH I có địa chỉ trụ sở tại thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Vì vậy Tòa án huyện V, tỉnh Thái Bình thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về việc áp dụng pháp luật: Hợp đồng lao động mà chị Nguyễn Thị Kim H yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu được ký kết vào năm 2009 khi Bộ luật Lao động năm 1994 đang có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, do Bộ luật Lao động năm 1994 không có điều luật quy định về hợp đồng lao động vô hiệu. Do đó Tòa án căn cứ các quy định tại Bộ luật Lao động năm 2012 và năm 2019 để giải quyết yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim H trong việc dân sự này.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim H đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động số 5615 ngày 23/10/2009 ký kết giữa người lao động là Nguyễn Thị Kim H (nhưng do chị Nguyễn Thị Hồng T1 là người ký kết) với người sử dụng lao động là công ty TNHH I vô hiệu, thì thấy: Việc chị Nguyễn Thị Hồng T1 mượn giấy tờ (Giấy chứng minh nhân dân) của chị Nguyễn Thị Kim H, nhận mình là chị Nguyễn Thị Kim H để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH I là hành vi vi phạm nguyên tắc “Trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật Lao động năm 2012, khoản 1 Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2019 và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Bộ luật Lao động năm 2012, khoản 2 Điều 16 Bộ luật Lao động năm 2019. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động năm 2019, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ, do đó yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim H là có căn cứ chấp nhận. Cần tuyên bố Hợp đồng lao động số 5615 ngày 23/10/2009 ký kết giữa người lao động là Nguyễn Thị Kim H (nhưng do chị Nguyễn Thị Hồng T1 là người ký kết) với người sử dụng lao động là công ty TNHH I vô hiệu.

Đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim H đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu: Căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019, Điều 10 Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ, xét thấy: Mặc dù có sự lừa dối khi ký kết hợp đồng lao động giữa chị Nguyễn Thị Hồng T1 (Hồ sơ mang tên Nguyễn Thị Kim H) với Công ty TNHH I nhưng trên thực tế chị Nguyễn Thị Hồng T1 có làm việc tại Công ty từ tháng 10/2009, có đóng bảo hiểm xã hội cho chị Nguyễn Thị Hồng T1 (mang tên Nguyễn Thị Kim H) số sổ là 3409026725. Do vậy cần giao cho các cơ quan chức năng có liên quan đến Hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH I và chị Nguyễn Thị Kim H (do chị Nguyễn Thị Hồng T1 là người ký kết) điều chỉnh tên Nguyễn Thị Kim H trên sổ Bảo hiểm xã hội số 3409026725 thành Nguyễn Thị Hồng T1. Chị Nguyễn Thị Kim H và Nguyễn Thị Hồng T1 có quyền liên hệ với cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh T để làm thủ tục điều chỉnh thông tin nhân thân từ Nguyễn Thị Kim H thành Nguyễn Thị Hồng T1.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm v khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 3 Điều 367, Điều 370, Điều 372, Điều 401, Điều 402 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994; khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2012; khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16, điểm b khoản 1 Điều 49, Điều 50, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019, Điều 10 Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim H: Tuyên bố Hợp đồng lao động số 5615 ngày 23/10/2009 ký kết giữa người lao động là Nguyễn Thị Kim H (nhưng do chị Nguyễn Thị Hồng T1 là người ký kết) với người sử dụng lao động là công ty TNHH I vô hiệu.

2. Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Giao cho các cơ quan chức năng có liên quan điều chỉnh thông tin nhân thân tại sổ bảo hiểm số 3409026725 từ Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1990; nơi cư trú: Xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình, số CMND xxxxxxxxx do Công an tỉnh T cấp ngày 31/7/2006 thành Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1993, nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; CCCD số xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 20/8/2021. Chị Nguyễn Thị Kim H và chị Nguyễn Thị Hồng T1 có quyền liên hệ với cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh T để làm thủ tục điều chỉnh thông tin nhân thân từ Nguyễn Thị Kim H thành Nguyễn Thị Hồng T1.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị Nguyễn Thị Kim H đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001735 ngày 08/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư thành tiền lệ phí.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Nguyễn Thị Kim H, Công ty TNHH I, Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Bình, chị Nguyễn Thị Hồng T1 có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định này./.

Cỡ chữ