- Tranh chấp gì? Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể — án lao động — "Nguyễn Chí L"
- Tòa quyết gì? 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số:184/2026/QĐST-LĐ | Tp. Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 6 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Võ Thị Thu Thảo
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thủy Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16
– Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí
Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 238/2026/TLST-LĐ ngày 28 tháng 5 năm 2026 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 165/2026/QĐST-LĐ ngày 04 tháng 6 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Ông Nguyễn Chí L, sinh năm 1996; thường trú: ấp S, xã H, tỉnh
An Giang, có yêu cầu xin giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Dương L1, sinh năm 1994; thường trú: ấp S, xã H, tỉnh An Giang,
có yêu cầu xin giải quyết vắng mặt.
2. Công ty TNHH D; địa chỉ: Thửa đất số 104, 106, 107A, 164, 165, 166, 169, 170,
173, 174, 183, 184, 185 và thửa đất 186, đường số F, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
3. Bảo hiểm xã hội cơ sở Dĩ An - Thành phố H; địa chỉ: Đường T, khu T, khu phố
N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết
ông Nguyễn Chí L trình bày:
Ông Nguyễn Chí L tiến hành điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
thì phát hiện hồ sơ bảo hiểm bị trùng trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2019 đến tháng 6 năm 2019. Nguyên nhân bị trùng bảo hiểm xã hội là do ông Nguyễn Chí L có cho ông Nguyễn Dương L1 mượn hồ sơ để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH D. Quá trình làm việc, ông Nguyễn Dương L1 được Công ty TNHH D tham gia bảo hiểm xã hội với số sổ bảo hiểm là 9124125581. Vì thiếu hiểu biết, nghĩ rằng việc cho ông Nguyễn Dương L1 mượn hồ sơ để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH D là không vi phạm gì và giữa ông Nguyễn Chí L và ông Nguyễn Dương L1 là anh em ruột. Vì vậy, ông Nguyễn Chí L yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Chí L với Công ty TNHH D là vô hiệu; ông Nguyễn Chí L không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Dương L1, trình bày: Vào
thời điểm tháng 05/2019, ông có mượn hồ sơ của ông Nguyễn Chí L để xin việc tại Công ty TNHH D. Quá trình làm việc Công ty có tham gia bảo hiểm cho ông với số sổ bảo hiểm xã hội là 9124125581, việc tham gia bảo hiểm của ông tại Công ty bị trùng với thời gian tham gia bảo hiểm của ông Nguyễn Chí L. Nay ông Chí L có đơn yêu cầu Tuyên Hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên là Nguyễn Chí L (do ông Nguyễn Dương L1 là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH D trong khoản thời gian làm từ tháng 05/2019 đến tháng 6/2019 là vô hiệu thì ông đồng ý và không yêu cầu gì.
- Công ty Cổ phần D trình bày: Công ty TNHH D đã được Tòa án thông báo và
tống đạt các văn bản tố tụng để tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định tại các Điều 178; Điều 366; Điều 367; Điều 369 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên Công ty TNHH D đều vắng mặt không rõ lý do.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở D (viết tắt là
BHXH) trình bày: Ông Nguyễn Chí L, sinh ngày 06/7/1996, CCCD: xxxxxxxxxxxx. Sổ BHXH số 9124125581 có quá trình tham gia từ 5/2019 đến tháng 6/2019 tại C chưa được xác nhận bảo lưu trên sổ. Tại thời điểm tra cứu, ông Chí L chưa hưởng trợ cấp 1 lần, chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp. Theo quy định hiện hành về đăng ký tham gia BHXH, BHYT, BHTN, cơ quan BHXH không lưu giữ hợp đồng lao động và các giấy tờ tùy thân của người lao động mà do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ. Trường hợp Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, đề nghị Quý Tòa tuyên buộc người mượn hồ sơ tư pháp đi làm việc và tham gia BHXH, được điều chỉnh thông tin nhân thân đúng của người lao động. Đồng thời, giải quyết vắng mặt toàn bộ đối với cơ quan BHXH cơ sở D trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án trên.
- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí
Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu của ông Nguyễn Chí L là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu ông Nguyễn Chí L; người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Dương L1; Bảo hiểm xã hội cơ sở D đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Công ty TNHH D vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Xem xét yêu cầu của đương sự:
Trong thời gian tháng 5/2019, người lao động tên Nguyễn Chí L giao kết hợp
đồng lao động với Công ty TNHH D và được Công ty TNHH D, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 9124125581. Tuy nhiên, ông Nguyễn Chí L và ông Nguyễn Dương L1 đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH D và thực tế làm việc tại Công ty T khoảng thời gian từ tháng 5/2019 đến tháng 6/2019 là ông Nguyễn Dương L1 (do ông Nguyễn Chí L cho ông Nguyễn Dương L1 mượn chứng minh nhân dân).
Xét thấy, lời khai của ông Nguyễn Chí L và ông Nguyễn Dương L1 phù hợp
với xác nhận của Bảo hiểm xã hội cơ sở D. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ tháng 5/2019 đến tháng 6/2019, ông Nguyễn Chí L đang làm việc tại Công ty Cổ phần B và tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số 7916156171. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH D và thực tế làm việc tại Công ty T khoản thời gian từ tháng 5/2019 đến tháng 6/2019 là ông Nguyễn Dương L1 (do ông Nguyễn Chí L cho ông Nguyễn Dương L1 mượn chứng minh nhân dân).
Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại
khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định tại Điều 122, Điều 127 Bộ luật dân sự 2015, thì giao dịch dân sự sẽ bị vô hiệu và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L2 thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động , đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc ông Nguyễn Dương L1 mượn hồ sơ cá nhân của ông Nguyễn Chí L để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH là 912412558 vào khoảng thời gian từ tháng 5/2019 đến tháng 6/2019 tại Công ty TNHH D là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Chí
L về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Chí L với Công ty TNHH D theo sổ bảo hiểm xã hội số 9124125581 là vô hiệu.
Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét yêu
cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Chí L về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH D trong giai đoạn tháng 5/2019 đến tháng 6/2019 là ông Nguyễn Dương L1, không phải là ông Nguyễn Chí L. Ông Nguyễn Chí L và ông Nguyễn Dương L1 có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 9124125581.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố
tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Ông Nguyễn Chí L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39;Điều
146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 122, 127 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản khoản 2 Điều 19; Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Lao động năm
2012;
- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51 của Bộ
luật Lao động năm 2019;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Nguyễn Chí L.
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Chí L và Công ty TNHH D (theo
sổ bảo hiểm xã hội số 9124125581) bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 9124125581 không phải là
ông Nguyễn Chí L, sinh năm 1996, giới tính: nam, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx. Ông Nguyễn Chí L và ông Nguyễn Dương L1 được quyền liên hệ với C1 có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 9124125581.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Ông Nguyễn Chí L phải chịu 300.000đ
(ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0032717 ngày 26/5/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong
thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND KV 16 - Tp. Hồ Chí Minh; - Phòng THADS KV 16 - Tp. Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Võ Thị Thu Thảo |